Có thể nói, kiến thức khoa học mà các giáo sư đã truyền đạt cho các KTS trong khóa đào tạo ThS.KTS đầu tiên của chúng ta là vô giá. Như các thầy đã nói với chúng ta “ThS.KTS chỉ là chức danh và mới chỉ là bước khởi đầu của quá trình nghiên cứu khoa học”. Nói như thế là cách nói khiêm tốn của những người làm công tác khoa học và anh chị em biết là khó khăn và phấn đấu như thế nào, chúng ta mới có kết quả như ngày hôm nay! Ít nhất là chúng ta phải vượt qua bước khởi đầu và chúng ta phải có trách nhiệm với chức danh mà chúng ta đã có. Giải quyết được vấn đề khoa học sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho xã hội.
Chào mừng bạn đến với The Master's Architecture Vung Tau (course 2007-2010)

25/10/11

Lấy ý kiến góp ý cho Dự thảo Luật Đô thị ở khu vực phía Nam

Ngày 21/10 tại TP. Vũng Tàu, Bộ Xây dựng đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Đô thị tại khu vực phía Nam. Tới dự Hội thảo có Thứ trưởng Cao Lại Quang, Cục trưởng Cục Phát triển đô thị - Phan Thị Mỹ Linh cùng 60 đại biểu đại diện cho các Sở xây dựng, các cơ quan chuyên ngành và một số doanh nghiêp ở khu vực phía Nam.

 
Ngày 21/10 tại TP. Vũng Tàu, Bộ Xây dựng đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Đô thị tại khu vực phía Nam. Tới dự Hội thảo có Thứ trưởng Cao Lại Quang, Cục trưởng Cục Phát triển đô thị - Phan Thị Mỹ Linh cùng 60 đại biểu đại diện cho các Sở xây dựng, các cơ quan chuyên ngành và một số doanh nghiêp ở khu vực phía Nam. 

Các đại biểu đã đưa ra những ý kiến liên quan tới tên Luật, một số khái niệm, phạm trù trong Dự thảo luật và mục tiêu của Luật như: quản lý sau quy hoạch; quản lý cảnh quan không gian đô thị, phát triển hạ tầng đô thị, đặc biệt là khả năng kết nối giữa các đô thị, đầu mối kết nối hạ tầng giao thông, quản lý trật tự về hạ tầng đô thị…

Dự thảo Luật gồm 10 chương, quy định về quản lý các hoạt động phát triển đô thị, quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân tham gia vào các hoạt động định hướng phát triển, đầu tư và quản lý đô thị trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ trưởng Cao Lại Quang nhấn mạnh: Quản lý đô thị còn nhiều bất cập xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Luật đô thị ra đời nhằm khắc phục và kiểm soát toàn bộ quá trình phát triển đô thị từ hình thành phát triển, tái phát triển để đô thị phát triển đồng bộ, trật tự, bền vững, góp phần vào phát triển KTXH và bảo vệ môi trường…. Để các quy định này phù với đời sống, được hoàn thiện thì rất cần thiết ý kiến đóng góp của các cơ quan quản lý tại mỗi địa phương và các nhà chuyên môn.

Theo BaoXaydung.com.vn

5/10/11

Cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo ngôi nhà đa mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu”

Ngày 3/10, Bộ Tài nguyên và Môi trường phát động cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo ngôi nhà đa mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu”.

 

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, biến đổi khí hậu tác động đến mọi ngành, mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực xây dựng và kiến trúc. Đây là mối quan hệ có tác động qua lại 2 chiều bởi lẽ, một mặt xây dựng, kiến trúc cần thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu để đảm bảo phát triển kinh tế xã hội nhưng mặt khác các hoạt động xây dựng cũng có tác động đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu.  

Xuất phát từ thực tế đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phát động cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo ngôi nhà đa mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu” nhằm kêu gọi cộng đồng hiểu về các tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong phòng chống giảm nhẹ thiên tai, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường; đồng thời, định hướng công tác quy hoạch, thiết kế theo hướng phát triển bền vững, hướng đến mục tiêu một nền kiến trúc xanh, tạo ra các sản phẩm kiến trúc có giá trị thực tiễn, mang ý nghĩa xã hội tích cực.

Theo Ban Tổ chức, ngôi nhà phải được thiết kế theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, phù hợp với khí hậu các vùng miền, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, có khả năng ứng dụng vào thực tế với chi phí hợp lý. Các tác phẩm nhà sinh thái có thể là nhà ở, khu nghỉ dưỡng, nhà văn hoá, thư viện, bảo tàng, nhà triển lãm…

Tác phẩm dự thi gửi về địa chỉ: Văn phòng Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, số 8 Phố Pháo Đài Láng, Hà Nội.

Thời gian nhận tác phẩm đến hết ngày 11/11/2011.

Mục đích

- Nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư về các tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong công tác phòng chống giảm nhẹ thiên tai, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường;

- Định hướng công tác quy hoạch, thiết kế theo hướng phát triển bền vững, thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Đồng thời góp phần tạo ra một diện mạo kiến trúc cũng như các sản phẩm kiến trúc có giá trị thực tiễn, mang ý nghĩa xã hội tích cực;

- Góp phần hình thành nhận thức về ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực kiến trúc và quy hoạch xây dựng cũng như trong hành nghề kiến trúc và xây dựng;

- Phát huy tiềm năng sáng tạo của đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là các ý tưởng sáng tạo mang tính thực tiễn cao của cộng đồng trong khu vực dễ bị tổn thương bởi các tác động do biến đổi khí hậu gây ra.

Phạm vi cuộc thi

Đối tượng dự thi:

Các đơn vị, tổ chức và công dân Việt Nam đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam.

Tác phẩm dự thi:

a) Các tác phẩm nhà sinh thái tham gia dự thi bao gồm các công trình đã xây dựng hoặc thiết kế mới với các thể loại sau:

- Nhà ở, khu nhà ở; nhà vườn;
- Trang trại, khu nghỉ dưỡng…
- Nhà đa năng;
- Nhà cộng đồng, Nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, nhà triển lãm , nhà trưng bày
- Không bao gồm các công trình phục vụ tín ngưỡng (nhà thờ, nhà chùa, tu viện...).

b) Phạm vi xây dựng của các tác phẩm nhà dự thi chú trọng một trong các khu vực sau:

- Khu vực trung du – miền núi;
- Khu vực đồng bằng;
- Khu vực duyên hải.

c) Hình thức tác phẩm dự thi:

- Ý tưởng sáng tạo về thiết kế - xây dựng nhà đa mục tiêu;
- Đồ án thiết kế - xây dựng nhà đa mục tiêu.

d) Sản phẩm dự thi: Tác phẩm dự thi bao gồm:

- Bản thuyết minh (bắt buộc): không quá 10 trang A4, Font chữ Time New Roman cỡ 14) và bản vẽ chính thể hiện ý tưởng của tác giả;
- Khuyến khích các bản vẽ thiết kế, ảnh chụp, phim, video, mô hình minh hoạ.

Các tiêu chí xét tác phẩm dự thi

Tác phẩm dự thi phải đáp ứng ít nhất 3 tiêu chí trong số các tiêu chí sau đây:

- Phòng tránh và giảm nhẹ tác động của thiên tai (lũ lụt, hạn hán, bão tố....);
- Bảo vệ và giảm các tác hại đến môi trường xung quanh; phù hợp với khí hậu của các vùng miền;
- Thân thiện với đối tượng sử dụng;
- Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên nước, sinh cảnh…), tái sử dụng vật liệu. Khuyến khích sử dụng vật liệu xây dựng từ tự nhiên, vật liệu địa phương truyền thống thân thiện môi trường;
- Sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm;
- Có khả năng ứng dụng vào thực tế cuộc sống với chi phí hợp lý.

Hồ sơ dự thi

Quy định chung:

- Hồ sơ dự thi được đựng trong một phong bì dán kín, ngoài có ghi:
Tên Cuộc thi: Ý tưởng sáng tạo ngôi nhà đa mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu;
Danh mục hồ sơ bên trong.

- Thông tin đầy đủ về tổ chức, cá nhân dự thi bao gồm: Tên tổ chức, cá nhân, địa chỉ, điện thoại liên lạc, email, fax và để trong phong bì dán kín gửi kèm theo hồ sơ dự thi;
- Ngôn ngữ thể hiện: Tiếng Việt;
- Mỗi tổ chức, cá nhân có thể gửi dự thi tối đa 05 ý tưởng hoặc / và đồ án;
- Các hồ sơ dự thi thuộc quyền sử dụng của Ban Tổ chức và không hoàn trả lại tác giả.

Hồ sơ tác phẩm dự thi:

- Trường hợp tác phẩm dự thi là ý tưởng: Tác giả trình bày thuyết minh ý tưởng trên khổ giấy A4; kèm các ảnh, hình vẽ, phim video minh họa, mô hình (nếu có)
- Trường hợp tác phẩm dự thi là đồ án thiết kế:
Hồ sơ thuyết minh nội dung dự thi được trình bày trên khổ giấy A4, các bản vẽ trên khổ giấy A3 đóng thành quyển và phải đảm bảo rõ ràng, số lượng bản vẽ không bắt buộc và không giới hạn nội dung minh họa cho công trình. Trong đó, các bản vẽ bao gồm: mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, phối cảnh hoặc hình ảnh (nếu có); thuyết minh (nêu và phân tích ý tưởng sáng tác) của công trình phù hợp và diễn đạt được đầy đủ về nội dung kiến trúc công trình dự thi; Không được đưa biểu tượng, logo, hoặc tên của tổ chức, cá nhân dự thi vào bản vẽ và bản thuyết minh;
Ban Tổ chức không quy định hình thức bản vẽ nhưng các bản vẽ phải đảm bảo rõ ràng và phù hợp với khổ giấy A3.

Quyền lợi và trách nhiệm của tác giả và tác phẩm dự thi

- Các tác phẩm hợp lệ vào vòng chung khảo sẽ được trưng bày tại Khách sạn Hilton Hà Nội trong khuôn khổ Tuần lễ biến đổi khí hậu Việt Nam – Đan Mạch;
- Được đăng tải trên Tạp chí chuyên ngành kiến trúc, Tạp chí Tài nguyên Môi trường, (tác phẩm nào gửi trước được đăng trước theo kỳ phát hành tạp chí);
- Được xem xét để hỗ trợ kinh phí áp dụng vào thực tế, tác giả sẽ được hưởng quyền tác giả với tác phẩm theo quy định của pháp luật;
- Với giải nhất sẽ được hỗ trợ để tham dự các cuộc thi khu vực và quốc tế.
- Tổ chức, cá nhân tự chịu trách nhiệm về bản quyền những nội dung trong hồ sơ dự thi gửi tới Ban tổ chức.

Cơ cấu giải thưởng

- 01 Giải nhất: Cúp, giấy chứng nhận và 30.000.000 đồng;

- 02 Giải Nhì: Cúp, giấy chứng nhận và 10.000.000 đồng;

- 03 Giải Ba: Cúp, giấy chứng nhận và 5.000.000 đồng;

- 05 Giải khuyến khích: Giấy chứng nhận và 2.000.000 đồng;

(Tác giả được sử dụng cúp, giấy chứng nhận trong các hoạt động quảng bá của mình.)

Thường trực Ban Tổ chức Cuộc thi:

Văn phòng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu

Địa chỉ: Số 8 Phố Pháo Đài Láng, Quận Đống Đa, TP. Hà Nội
Điện thoại: (04) 37 759 769 - Fax: (04) 37 759 770
Email: office@ntprcc.gov.vn

4/10/11

Thông qua đồ án quy hoạch 1/2000 đảo Gò Găng và Núi Lớn-Núi Nhỏ

Chiều 27-9, ông Trần Minh Sanh, Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì cuộc họp nghe báo cáo về đồ án quy hoạch 1/2000 đảo Gò Găng và Núi Lớn, Núi Nhỏ, TP. Vũng Tàu. Tham dự cuộc họp có ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; đại diện các sở, ban, ngành trong tỉnh. 
 
Đại diện nhà đầu tư trình bày đồ án qui hoạch đảo Gò Găng (ảnh: Thời sự BRT)

Theo Sở Xây dựng và Công ty Arep (Pháp) – đơn vị tư vấn lập đồ án, quy hoạch 1/2000 Núi Lớn, Núi Nhỏ - với mục tiêu xây dựng, bảo tồn và phát triển Núi Lớn, Núi Nhỏ thành những điểm nhấn đô thị tự nhiên, có vai trò đặc biệt trong việc tạo nên hình ảnh đặc trưng của đô thị du lịch Vũng Tàu. Đồng thời, nơi đây cũng được quy hoạch các khu nhà ở, dịch vụ du lịch, giải trí, khu bảo tồn cảnh quan thiên nhiên. Trong khu vực quy hoạch 1/2000 Núi Lớn, Núi Nhỏ sẽ có các khu dân cư hiện hữu, khu dân cư xây mới, khu công cộng du lịch và công viên rừng sinh thái.

Theo đồ án quy hoạch 1/2000 đảo Gò Găng, khu vực đảo Gò Găng sẽ được xây dựng thành đô thị hiện đại mang đặc trưng riêng của Vũng Tàu, được hình thành trên cơ sở khai thác chính những đặc điểm địa hình, mặt nước và cảnh quan thiên nhiên của Gò Găng.

Tại cuộc họp, ông Trần Minh Sanh đã thống nhất với các ý tưởng trong đồ án đưa ra và đề nghị chủ đầu tư (Sở Xây dựng), Công ty Arep tiếp tục bổ sung các ý kiến đóng góp của đại diện các sở, ngành và tổ chức các cuộc họp lấy ý kiến của người dân đóng góp cho 2 đồ án này.

Triệu Vỹ
 

Chợ du lịch Vũng Tàu

Mới đây, UBND tỉnh đã có văn bản cho phép Công ty TNHH MTV Thoát nước và Phát triển đô thị tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Busadco) thực hiện thí điểm đầu tư, khai thác Dự án Chợ du lịch Vũng Tàu và bãi giữ xe phục vụ du lịch tại Bãi Sau (TP. Vũng Tàu) với thời hạn thí điểm là 10 năm. Công trình dự kiến được khởi công vào tháng 8-2011, đây cũng là một trong những công trình chào mừng kỷ niệm 20 năm thành lập tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. 
 

Việc hình thành Dự án Chợ du lịch Vũng Tàu là một quá trình và được sự đồng thuận cao, từ Hiệp hội Du lịch tỉnh đến các sở, ngành, chính quyền TP. Vũng Tàu và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Đồng thời là việc làm cấp bách, cần thiết, góp phần làm phong phú các loại hình giải trí về đêm cho du khách, tạo không khí mua sắm nhộn nhịp, hấp dẫn, thu hút du khách đến khu vực Bãi Sau; nhằm chấn chỉnh các hình thức buôn bán vỉa hè, hàng rong bảo đảm an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, làm sạch đẹp khu vực Bãi Sau, góp phần tạo việc làm ổn định cho người dân địa phương.

Khu đất được chọn xây dựng Chợ du lịch và bãi xe nằm phía sau Khách sạn Imperial và Khu điều dưỡng du lịch Vũng Tàu – Medicoast, có diện tích khoảng 4ha, là đất nhà nước hiện đang do Busadco sử dụng. Dự án bao gồm các khu chức năng chính: khu mua sắm bày bán hàng lưu niệm, hàng tiêu dùng, thời trang, mỹ phẩm, đặc sản địa phương; hai bãi đậu xe cùng một lúc có thể tiếp nhận đến 500 xe ô tô; khu đa năng là nơi tổ chức các sự kiện, các hoạt động biểu diễn, bán hàng di động, khi cần thiết có thể tận dụng thành bãi đậu xe; khu ẩm thực vùng-miền; khu vui chơi giải trí dành cho các câu lạc bộ, trò chơi thiếu nhi, sân thể thao; hệ thống giao thông, cây xanh. Sau khi được sự góp ý của các sở, ngành và Hiệp hội Du lịch tỉnh, Busadco tiếp tục hoàn chỉnh dự án đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó, Busadco cũng đang gấp rút lập đề án tổ chức quản lý, kinh doanh chợ như: xây dựng quy chế, lựa chọn đối tượng vào buôn bán trong chợ, tuyên truyền ý thức kinh doanh văn minh khi tham gia chợ du lịch.

Người viết bài này cũng đã có dịp đi công tác và tham quan du lịch tại Vương quốc Campuchia và đã đến tỉnh Siem Reap. Sau một ngày khám phá quần thể di tích văn hóa Angkor nổi tiếng, buổi tối chúng tôi thả bộ vào chợ đêm Siem Reap. Chợ không họp trên đường phố mà được Chính phủ Campuchia quy hoạch một khuôn viên rộng với khoảng 200 gian hàng được bày bán tại đây. Khu chợ đêm Siem Reap là tổ hợp của những gian hàng kề sát nhau, cùng chung một mẫu thiết kế với chất liệu gỗ, tre. Các chủ cửa hàng thuê và bán ở đây đều là người Campuchia và các mặt hàng ở đây hầu hết cũng là hàng do người Campuchia sản xuất, như: vải, khăn quàng truyền thống; đồ bạc trang sức và những đồ lưu niệm là các biểu vật đặc trưng của Campuchia như tượng Phật, tượng thần Bayon, tượng vũ nữ Apsara bằng đá, biểu tượng Angkor... Những người bán hàng trong khu chợ đêm luôn vui vẻ, nhiệt tình nhưng không lôi kéo tranh giành khách. Nhìn chung, không khí ở chợ yên tĩnh, không tấp nập, hối hả, không có trộm cắp, móc túi.

Từ ý tưởng đến hiện thực, Chợ du lịch Vũng Tàu sẽ được xây dựng trong tương lai. Cũng cần xác định thêm, đây không phải là chợ dân sinh mà là chợ phục vụ du lịch và đây là bãi đậu xe phục vụ việc tổ chức các sự kiện và bãi đậu xe cho khách du lịch chứ không phải là bến xe. Do vậy, việc tổ chức giữ xe như thế nào cho thuận lợi, hợp lý là điều cần thiết và cũng cần có những phương tiện khác như xe điện để chở khách du lịch từ Chợ du lịch Vũng Tàu đến các khu du lịch trên địa bàn thành phố. Bên cạnh đó, cần tổ chức các gian hàng bán đồ lưu niệm, gian hàng ẩm thực, khu vui chơi giải trí có văn hóa, thể hiện nét văn minh, lịch sự của một thành phố du lịch. Hy vọng khi đi vào hoạt động, Chợ du lịch Vũng Tàu sẽ là một trong những địa chỉ ưa thích, là nơi giao lưu văn hóa của du khách và người dân địa phương.

Lưu Dương
 

3/10/11

BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

(TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VIỆT NAM)
Tham luận khoa học tại hội thảo DI SẢN VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT ĐÔNG NAM Á TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHÂU ÂU/ BA LAN, tổ chức tại thành phố Krakow, Ba Lan, từ ngày 29/9 đến 2/10/2011.

TS. Nguyễn Thị Hậu

Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh (trước năm 1976 mang tên Sài Gòn) tọa độ 10º10' – 10°38' Bắc và 106º22' – 106°54' Đông. Có vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không trong nước và còn là một cửa ngõ quốc tế của Việt nam. Nằm ở vùng hạ lưu và là cửa biển của hệ thống sông Ðồng Nai – sông Sài Gòn, địa hình thành phố Hồ Chí Minh là một mạng lưới sông ngòi kênh rạch lớn nhỏ đan xen chằng chịt, những gò đất cao bên cạnh khu vực rừng ngập mặn ven biển (hiện nay là Khu dự trữ sinh quyển thế giới) làm cho môi trường tự nhiên rất đa dạng phong phú.

Vị trí địa lý và tiến trình lịch sử đã tạo nên những đặc trưng văn hóa độc đáo của thành phố Hồ Chí Minh.

1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển.

Thành phố Sài Gòn (từ sau năm 1975 là thành phố Hồ Chí Minh) có một hệ thống di tích khảo cổ học niên đại từ 3000-2500 năm cách ngày nay. Tuy số lượng không nhiều nhưng tiêu biểu của quá trình phát triển của thời tiền sử: đây là trung tâm của lưu vực sông Đồng Nai, phát triển một “cảng thị sơ khai” giao lưu thương mại đường biển với quần đảo Đông Nam Á, Trung quốc và Ấn Độ. Từ đó có đóng góp quan trọng vào sự hình thành và thịnh đạt của văn hóa Óc Eo và vương quốc cổ Phù Nam vào những thế kỷ đầu Công nguyên.

Từ đầu thế kỷ XVII, Sài Gòn trở thành trung tâm chính trị – hành chánh (1689), trung tâm chính trị – kinh tế (1790) của thời chúa Nguyễn rồi vương triều Nguyễn (1802).

Nửa sau thế kỷ XIX chính quyền thực dân Pháp đã cải tạo, xây dựng khu vực Bến Nghé – Sài Gòn thành trung tâm của chính quyền thực dân ở Đông dương. Và phát triển Chợ Lớn thành một trung tâm kinh tế lớn.

Từ giữa thế kỷ XX Sài Gòn là trung tâm chính trị - kinh tế – văn hóa của chính quyền miền Nam Việt Nam, một trung tâm quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á. Thành phố được mở rộng hơn nhiều và trở thành một đô thị lớn và hiện đại.

Từ sau năm 1975 tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh quá trình đô thị hóa phát triển mạnh mẽ để phục vụ cho cuộc sống của hơn 7 triệu cư dân thành phố và khỏang 2 triệu người nhập cư.

Trải qua các giai đọan lịch sử Sài Gòn luôn là một trung tâm kinh tế quan trọng có tầm ảnh hưởng đến một khu vực rộng lớn, đồng thời có những đặc trưng văn hóa khác với nhiều thành phố khác ở Việt Nam.

2. Những di sản văn hóa đặc trưng của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh

2.1 Sài Gòn là đô thị sông nước:

Sông Sài Gòn là giao thông đường thủy quan trọng nhất, cảng Sài Gòn là cửa ngõ thông thương với nước ngoài. Hệ thống kênh rạch dày đặc là những con đường huyết mạch để vận chuyển lúa gạo và các loại nông sản, hàng hóa khác từ đồng bằng sông Cửu Long lên Cảng Sài Gòn để xuất khẩu. Thương cảng Sài Gòn, từ góc độ lịch sử có thể coi là đặc điểm chủ yếu của đô thị Sài Gòn.

- Hệ thống đường sông, kênh rạch ở Sài Gòn phục vụ cho sự phát triển của nghề thủ công làm gốm nổi tiếng là Xóm Lò Gốm” còn lại nhiều dấu tích như kênh Lò gốm, đường Lò Siêu, khu lò lu, bến mảnh sành, cầu lò chén… Từ đầu thế kỷ XX do quá trình đô thị hoá nên vùng gốm Sài Gòn không còn điều kiện để phát triển sản xuất, truyền thống và kỹ thuật sản xuất “gốm Sài Gòn” sau đó phát triển ở vùng gốm Biên Hòa (Đồng Nai), Lái Thiêu (Bình Dương)…

- Hệ thống sông rạch làm nên cảnh quan “trên bến dưới thuyền” của Sài Gòn: những con sông, kênh rạch với những bến sông nổi tiếng sinh họat buôn bán, cảnh quan văn hóa đặc trưng: sông – bến chợ – phố chợ ven sông - làng ven sông – giao thông đường thủy – ghe thuyền - cầu qua sông…

Hiện nay đại lộ Đông Tây được xây dựng đã đáp ứng nhu cầu giao thông và mang lại hiện đại cho thành phố, nhưng trả giá cho việc này là dọc hai bên sông – cũng là dọc theo đại lộ, những dãy nhà phố buôn bán biến mất, những tòa cao ốc đã và đang mọc lên. Vẻ đẹp cổ xưa “trên bến dưới thuyền” sầm uất mà hồi giữa thế kỷ XX vẫn còn được ghi nhận đã không còn nữa.

2.2 Sài Gòn là đô thị của sự giao lưu và hội nhập văn hóa.

Sài Gòn có một hệ thống sông lớn và có cửa biển Cần Giờ nên đây là một cảng thị từ rất sớm, cũng là nơi có sự giao lưu mạnh mẽ với các quốc gia khác qua đường biển. Từ thế kỷ XVII nhiều cư dân từ nơi khác đến khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Sự hình thành đô thị Sài Gòn là quá trình tụ cư và hội nhập văn hóa nhanh chóng của người Việt, người Hoa với những tộc người bản địa. Họ đã duy trì và phát triển những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của mình và xây dựng các ngôi đình, chùa của người Việt; đền, miếu, hội quán của người Hoa; chùa của người Khmer; nhà thờ của người Chăm Hồi giáo, nhà thờ Công giáo, Tin lành… Các kiến trúc tôn giáo xây dựng trong khoảng 300 năm nay thể hiện sự đa dạng và hội tụ văn hóa của nhiều cộng đồng cư dân. So với Hà Nội hay Huế thì di tích ở Sài Gòn không nhiều, niên đại muộn, đặc trưng kiến trúc- trang trí thể hiện sự giao lưu văn hóa đậm nét, cần nghiên cứu từ góc độ bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc thù của vùng đất này thì mới đánh giá thỏa đáng.

Ngoài ra còn có nhiều ngôi nhà cổ, một số khu lăng mộ…Do nhu cầu của cuộc sống mà những di tích là đối tượng bị phá hủy nhiều nhất trong quá trình đô thị hóa.

2.3 Sài Gòn là đô thị được quy họach và xây dựng theo kiểu phương Tây:

Di sản văn hóa nổi bật là cảnh quan đô thị kiểu phương Tây: lấy sông Sài Gòn làm chuẩn các đường phố ngang dọc chia đô thị Sài Gòn (vốn trải dài ven sông, kênh rạch) thành những ô vuông, trong đó là các công sở, biệt thự, trường học, bệnh viện và các công trình công cộng khác. Kiến trúc tôn giáo quan trọng là nhà thờ công giáo trở thành trung tâm của một khu vực dân cư, có thể nhận thấy trung tâm thành phố Sài Gòn nằm trong tam giác có 3 đỉnh là 3 nhà thờ cổ: Tân Định – Đức Bà – Huyện Sĩ (khu vực trung tâm). Những công trình kiến trúc dành cho công sở cho đến nay vẫn còn giữa được công năng, cảnh quan khu trung tâm thành phố là những con đường với hàng cây cao vút, những biệt thự mang vẻ đẹp của kiến trúc cổ điển châu Âu nhưng gần gũi và đã trở nên quen thuộc, là một phần không thể thiếu của thành phố, là “dấu ấn Sài Gòn” đối với người đi xa và người đến Sài Gòn.

3. Bảo tồn di sản văn hóa Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh.

Những khó khăn, thách thức

Thách thức lớn nhất đối với TP. Hồ Chí Minh là khẳng định được đặc trưng và bản sắc văn hóa của mình trong quá trình lịch sử và sự phát triển liên tục hướng đến thành phố hiện đại trong tương lai. Tuy nhiên, một thời gian dài vừa qua do trình độ quản lý đô thị chưa tốt, nhận thức không đầy đủ về di sản văn hoá thời thuộc địa, quy hoạch phát triển thành phố chưa mang tầm chiến lược…dẫn đến việc thu hẹp các công viên, tận dụng tất cả khuôn viên của các kiến trúc cổ, việc làm biến dạng thậm chí “giết chết” các kênh rạch, vùng cây xanh, ao hồ, đập bỏ hay thay đổi kiến trúc các công trình cổ… mang lại cái lợi trước mắt cho một nhóm người nhưng đồng thời xóa bỏ linh hồn văn hoá của thành phố.

  • Quá trình đô thị hoá ào ạt làm cho rất nhiều giá trị của đô thị vốn có sẽ mất đi. Áp lực sinh lợi kinh tế tức thời và sự thiếu khôn ngoan tỉnh táo, thiều tầm nhìn xa trong hoạch định chính sách, quy hoạch đô thị tất dẫn tới việc khai thác triệt để đất đai khu vực trung tâm của đô thị cũ. Quá trình đô thị hoá tại các nước đang phát triển như Việt Nam dưới áp lực toàn cầu hoá cả về địa – kinh tế lẫn áp lực của “nghệ thuật kiến trúc hiện đại” làm biến mất bản sắc văn hoá của mỗi đô thị.

  • Sự thay thế của một bộ phân dân cư sau 1975 và sự nhập cư ồ ạt những năm gần đây và tình trạng chuyển đổi sở hữu chung, riêng đối với các công trình này. Tư duy buôn bán nhỏ lẻ làm phát triển xu hướng tận dụng “nhà mặt tiền”, vỉa hè… để buôn bán, làm cho cấu trúc thay đổi xấu, cảnh quanh lộn xộn không có sự văn minh của một đô thị hiện đại.

  • Hệ thống luật pháp, chính sách bảo tồn di sản văn hóa chưa được phổ biến rộng rãi. Việc tuân thủ luật pháp của người dân, của các nhà đầu tư chưa tốt do chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế trước mắt. Cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa chưa đủ năng lực và điều kiện thực thi chức trách. Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa đồng bộ.

Một số dự án bảo tồn di sản văn hóa đô thị.

  • Tổng điều tra di sản văn hóa thành phố; Danh mục những di sản đã được công nhận, danh sách 180 công trình cần bảo tồn.

  • Phối hợp với Trung tâm dự báo và nghiên cứu đô thị vùng Lyon (Cộng hòa Pháp) – PADDI điều tra nghiên cứu bảo tồn khu vực trung tâm thành phố, phối hợp với một cơ quan tư vấn của Tây Ban Nha điều tra nghiên cứu bảo tồn khu vực Chợ Lớn. Quy hoạch chung toàn thành phố đến năm 2025, quy hoạch đô thị khu trung tâm do công ty Nikken Seikei Nhật Bản thiết kế, quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm do công ty tư vấn Pháp thiết kế… đều lưu ý và đặt vấn đề bảo tồn di sản văn hóa lên hàng đầu.

  • Bảo tồn di sản gắn với việc phát huy giá trị di sản qua du lịch văn hóa, đưa cộng đồng tham gia và trực tiếp được lợi từ việc bảo tồn di sản thông qua việc nâng cao kiến thức và sự hiểu biết cho người dân.

Xây dựng chiến lược bảo tồn di sản đô thị:

  • Căn cứ pháp lý: Luật Di sản văn hóa năm 2002 và bổ sung năm 2010, Luật xây dựng, Luật Đô thị và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật. Các quy định về việc xếp hạng, công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố, quốc gia.

  • Vấn đề bảo vệ di sản văn hóa thực chất là chính sách và thực thi chính sách quản lý đô thị. Khi dân cư chưa có đầy đủ ý thức, khi luật pháp và các biện pháp chế tài chưa đủ mạnh thì ý chí của chính quyền đô thị cực kỳ quan trọng. Từ ý chí này sẽ có những quyết sách và giải pháp hữu hiệu để thực thi việc bảo vệ di sản văn hóa, cũng là biện pháp quan trọng để giáo dục ý thức của người dân.

  • Quy hoạch chung: Xác định khu vực di sản văn hóa phải bảo tồn, từ đó có chính sách quy định cụ thể của các ngành liên quan sự phát triển xây dựng mới của khu vực gồm các quận 1, quận 3, quận 5.Từ đó triển khai các dự án khảo sát, nghiên cứu bảo tồn từng khu vực, phối hợp với các tổ chức nước ngoài là khả thi nhất vì tận dụng được kinh nghiệm, phương pháp khoa học, cách tiếp cận mới và qua đó, đào tạo nhân lực cho công tác bảo tồn di sản.

  • Bảo tồn di sản văn hóa vật thể gắn liền di sản văn hóa phi vật thể: lể hội, sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, lối sống… của cư dân. Xây dựng cho cư dân nếp sống Văn minh đô thị là một yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa.

  • Phát triển một thành phố hiện đại với những công trình sẽ trở thành di sản văn hóa trong tương lai: quy hoạch xây dựng những công trình có giá trị biểu tượng văn hóa chứ không chỉ thể hiện tiềm lực kinh tế.

4. Kết luận

Mỗi thành phố được hình thành với những đặc điểm riêng, địa thế, môi trường, lịch sử và con người đã tạo nên tính cách của nó. Bởi thế không có thành phố nào giống thành phố nào. Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh cũng vậy. Với lợi thế của vị trí địa lý thuận tiện cho thông thương và giao lưu kinh tế - văn hóa, là một đô thị trẻ, năng động, sáng tạo, TP Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, xây dựng thành phố văn minh hiện đại và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Trong bối cảnh của sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và TP Hồ Chí Minh, “phát triển bề vững” không chỉ là mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, mà chủ yếu là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và các vấn đề văn hóa – xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh có 3000 năm lịch sử, một đô thị hơn 300 tuổi. Là trung tâm kinh tế - văn hóa lớn nhất Việt Nam, hiện nay các di sản văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh đang chịu nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa, Làm thế nào để thành phố vừa phát triển hiện đại vừa bảo tồn được những di sản văn hóa trên mặt đất và di tích khảo cổ học dưới mặt đất? Giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển là vấn đề quan trọng hiện nay của thành phố Hồ Chí Minh và của nhiều đô thị khác ở Đông Nam Á.

Nguồn: http://www.viet-studies.info NguyenThiHau_BaoTonDiSanVanHoa.htm

24/5/11

Vũng Tàu: Hàng loạt di tích quốc gia thành… phế tích

Hàng loạt di tích được xếp hạng cấp quốc gia của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (BR-VT) đang có nguy cơ biến mất, trở thành phế tích do các công trình xâm lấn và không được quan tâm trùng tu, bảo vệ của cơ quan quản lý.
Di tích đứng trước nguy cơ bị xóa sổ!

Anten Vi ba nằm trên Núi Lớn-TP Vũng Tàu (hệ thống ra-đa hiện đại bậc nhất Đông Dương do quân đội Mỹ dựng lên năm 1967 để phục vụ chiến tranh) được công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1993 đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Giờ đây, không những bị hoen gỉ, bong tróc, không gian của quẩn thể di tích này có nguy cơ bị phá vỡ bởi một doanh nghiệp đang xẻ núi xây nhà hàng, khách sạn…

Theo quan sát của PV Tổ Quốc, khu vực đang được đào xới để xây dựng nhà hàng, khách sạn này chỉ cách di tích anten Vi ba chưa đến 50 m. Một số chuyên gia khẳng định khi hệ thống này hình thành thì tính hài hòa không gian trong khu di tích cũng sẽ bị phá vỡ. Hiện toàn bộ 4 mặt của khu di tích lịch sử này đã bị bao quanh bởi đất của Công ty Cổ phần Du lịch Núi Lớn- Núi Nhỏ và cáp treo Vũng Tàu.

Tiếp đến là trận địa pháo cổ Cầu Đá cũng đang đứng trước nguy cơ bị “xoá tên” trên bản đồ di tích tỉnh BR-VT. Trận địa pháo cổ Cầu Đá - một công trình quân sự của thực dân Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, là chứng tích tố cáo tội ác của thực dân Pháp xâm lược và là bộ sưu tập vũ khí cổ có giá trị. Toàn bộ trận địa pháo này có 4 khẩu, nằm cách đều nhau 18 m theo hình vòng cung, nòng súng hướng ra biển.

Thần công của trận địa pháo cổ Cầu Đá nằm trong xó bếp nhà dân

Hiện muốn “chiêm ngưỡng” được công trình này là điều “khó như lên trời” bởi di tích này đã bị băm nát và “ẩn mình” trong hoặc dưới nhà cửa của một số hộ dân. Theo tìm hiểu, cách đây gần chục năm, khi hệ thống nhà cửa bắt đầu mọc san sát bên chân núi, nhiều người đã kiến nghị lên các cấp cảnh báo tình hình di tích có thể bị “xóa sổ” và đến nay đã trở thành hiện thực.

Còn tại di tích Nhà má Tám Nhung (tên thật Hồ Thị Khuyên ở phường 6, TP Vũng Tàu - cơ sở cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến, được công nhận là di tích lịch sử năm 1989), tình trạng cũng không khả quan hơn. Ngay từ cổng nhìn vào, ngôi nhà của bà Tám Nhung giờ đây đang xiêu vẹo, hoang phế, mối mọt ăn sâu vào từng cột kèo, chái bếp. Anh Hồ Văn Hùng, cháu nuôi của bà Tám Nhung, hiện đang trông giữ căn nhà, ngậm ngùi: “Xuống cấp quá rồi. Nếu không có biện pháp bảo tồn thì di tích này khó tồn tại lâu được!”.

Ngoài ra còn rất nhiều di tích tại tỉnh BR-VT đang dần trở thành phế tích do không được sử dụng đúng mục đích hoặc để hoang phế, um tùm cỏ dại, đó là di tích ngôi nhà quan tư Pháp (86 Phan Chu Trinh, phường 2, TP Vũng Tàu), địa đạo Long Phước (huyện Châu Đức), địa đạo Hắc Dịch (huyện Tân Thành)…

Di tích Nhà má Tám Nhung bị xuống cấp, xiêu vẹo vì mối mọt

Bất lực

Có thể nói, việc hàng loạt di tích của tỉnh BR-VT đang dần bị xóa sổ một phần do ý thức người dân kém, phần khác do thiếu sự quan tâm của cơ quan chức năng.

Trao đổi về thực trạng trên, ông Phạm Chí Thân, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh BR-VT cho rằng, “chúng tôi đang… “lực bất tòng tâm”, mặc dù chúng tôi luôn quan tâm, trăn trở nhưng có nhiều vấn đề lên quan như kế hoạch, tài chính nên không thể cứ muốn là thực hiện được ()?!”.

Cũng theo ông Thân, bảo tàng tỉnh đã nhiều lần đề nghị các cơ quan chức năng ngăn chặn tình trạng lấn chiếm và xây dựng trái phép lên trên hiện vật di tích đã xếp hạng, nhưng vấn đề là không có tiền đền bù giải toả nên các công trình xây dựng dân dụng, nhà ở của người dân cứ được đà lấn tới.

Trước đây nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cũng đã cảnh báo rằng, nếu các cơ quan có trách nhiệm ở BR-VT không có biện pháp kịp thời thì những di tích được “điểm danh” rồi có thể sẽ dần bị xóa sổ… Điều đó nay đã thành hiện thực.

Tỉnh BR-VT có 38 di tích được xếp hạng, trong đó có 31 di tích được xếp hạng quốc gia. Một địa phương có thế mạnh về du lịch như BR-VT thì số di tích này sẽ góp phần quan trọng trong việc thu hút du khách. Thế nhưng trong thực tế tiềm năng này chưa được phát huy, thậm chí thiếu sự quan tâm đúng mức, khiến nhiều di tích trở thành “phế tích”.

Gia Thanh
Nguồn: Báo Tổ quốc

14/5/11

Bộ Xây dựng thông qua đề xuất dự thảo đề cương Luật Kiến trúc

Ngày 15/4 vừa qua, Bộ Xây dựng đã tổ chức hội đồng nghiệm thu Dự án sự nghiệp kinh tế: Điều tra khảo sát tình hình phát triển kiến trúc Việt Nam, đề xuất dự thảo đề cương Luật Kiến trúc do Thứ trưởng Nguyễn Đình Toàn làm Chủ tịch Hội đồng. 
 
Ảnh: kienviet

Dự án đã đánh giá tình hình phât triển ở Việt Nam, các mặt mạnh cũng như những tồn tại, yếu kém, đưa ra nguyên nhân của những tồn tại và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý kiến trúc. Đồng thời, dự án đã đưa ra Đề cương dự thảo nội dung Luật Kiến trúc gồm 3 chương, 13 mục, 67 điều quy định về các vấn đề liên quan đến hoạt động kiến trúc, yêu cầu kiến trúc, tác giả, tác phẩm kiến trúc, các công trình kiến trúc, chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư…

Theo đánh giá của Hội đồng nghiệm thu, dự án được làm công phu, những vấn đề nêu ra có cơ sở thực tiễn và mang tính khả thi cao. Việc đưa ra Dự thảo đề xuất Luật Kiến trúc là rất cần thiết trong tình hình hiện nay, nhằm quy định chức năng, định chế, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kiến trúc cả nước, tạo lập cơ sở cho các Bộ, ngành, chính quyền các cấp, soạn thảo văn bản dưới luật, các chương trình hành động, hoạch định các chính sách phát triển và quản lý kiến trúc… Dự án đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá đạt xuất sắc (đạt 282 điểm) và thống nhất thông qua để triển khai xây dựng Dự thảo đề cương Luật Kiến trúc./.
 

Sinh viên Việt Nam nhận giải Nhất cuộc thi kiến trúc quốc tế

Cuộc thi kiến trúc quốc tế Thiết kế chống lại những ảnh hưởng của thiên tai (Date – Design Against the Elements) là cuộc thi được quảng bá rộng rãi nhằm mục đích tìm ra những giải pháp chống lại ảnh hưởng của việc thay đổi khí hậu gây ra. Cuộc thi kêu gọi những người làm trong ngành kiến trúc, quy hoạch đô thị đóng góp tâm sức để phát triển nhà ở bền vững chống lại thiên tai cho cộng đồng các đô thị vùng nhiệt đới.

Sinh viên Việt Nam nhận giải Nhất cuộc thi kiến trúc quốc tế

Năm 2010, cuộc thi được khởi động từ ngày 05/3 và đã thu hút được 400 bài dự thi từ khắp các châu lục. Trải qua các vòng loại ngặt nghèo, Ban Giám khảo đã chọn ra 4 bài thi xuất sắc nhất của sinh viên. Việt Nam vinh dự đạt giải Nhất thuộc nhóm sinh viên với các gương mặt: Đào Thanh Hải 07K1, Nguyễn Ngọc Anh 07K3 (Đại học Kiến trúc Hà Nội) Nguyễn Hà Thắng 507 Đại học Phương Đông với tên đề tài “Ngôi làng tự chống đỡ với thiên tai”. Đề tài do TS.KTS. Nguyên Hạnh Nguyên - Giảng viên Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội hướng dẫn.

Trong hai ngày 17, 18/3/2011, TS.KTS. Nguyên Hạnh Nguyên và nhóm sinh viên nói trên đã sang Philipin nhận giải. Sau đây là một số hình ảnh của nhóm nghiên cứu trên đất nước Philipin.


Nữ TS.KTS. Hạnh Nguyên cùng 3 thành viên nhóm nhận giải thưởng


Ảnh chụp nhóm nghiên cứu ở sảnh Khách sạn Crown Plaza
 

6/5/11

Giới thiệu về vai trò của thống kê trong các phương pháp nghiên cứu khoa học

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÀ GÌ?

Là tìm lời giải đáp cho những câu hỏi/ vấn đề chưa có câu trả lời bằng cách thu thập, phân tích diễn giải các chứng cứ khoa học theo các nguyên tắc và phương pháp khoa học phù hợp.

Research is the cornerstone of any science, including both the hard sciences such as chemistry or physics and the social (or soft) sciences such as psychology, management, or education. It refers to the organized, structured, and purposeful attempt to gain knowledge about a suspected relationship.

Nguồn: http://allpsych.com/researchmethods/introduction.html

Research is a process of steps used to collect and analyse information in order to increase our understanding of a topic of issue. At a general level, research consists of three steps:
1. Pose a question
2. Collect data to answer the question
3. Present an answer to the question
This should be a familiar process. You engage in solving problem everyday and you start with a question, collect some information, and then form an answer. Although there are a few more steps than these three, this is the overall framework for reasearch. When you examine an published study or conduct your own study, you will find these three parts as the core elements.

WHAT ARE STEPS IN CONDUCTING RESEARCH?
Các bước tiến hành nghiên cứu?

When researchers conduct a study, they proceed through a distinct set of steps. Years ago these steps were identified as the “scientific method” of inquiry (Kerlinger, 1972; Leedy & Ormrod, 2001). Using a “scientific method”, reseachers:
• Identify a problem that defines the goal of research
• Make a prediction that, if confirmed, resolves the problem
• Gather date relevant to this prediction
• Analyze and interpret the data to see if it supports the prediction and resolves the question that initiated the research.
Applied today, theses steps provide the foundation for educational research. Although not all studies include predictions, you engage in these steps whenever you undertake a research study. As shown in Figure 1.2, the process of research consists of six steps:
1. Identifying a research problem
2. Reviewing the literature
3. Specifying a purpose for research
4. Collecting data
5. Analyzing and interpreting the data
6. Reporting and evaluating research.

(From: pp 3-8, Chapter 1, Educational Research – Planning, Conducting, and Evaluating Quantitative and Qualitative Research, John W. Creswell, 2nd ed, Pearson 2005, 2002)

CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

+ phương pháp định lượng: sử dụng các con số
+ phương pháp định tính: sử dụng các chứng cứ không phải là số (ngôn ngữ hình ảnh âm thanh)

Quantitative versus Qualitative Research Methods
So sánh phương pháp định lượng và phương pháp định tính

There are essentially two forms of educational research: quantitative (or statistical) and qualitative. In the past, most research was quantitative in nature, fashioned after the highly successful hard-science research methods. Since the 1990s, educational researchers have embraced qualitative research with the recognition that research on the human mind is fundamentally different from research on physical systems. Qualitative methods are used for depth of knowledge and quantitative methods are used for breadth and generalizability (emphasis added by PA). We cannot emphasize this enough: the best research designs employ both methods.
Most readers of this article will be familiar and comfortable with the ideas behind quantitative research. Because of this, and because quantitative research methods are well documented (e.g., Hopkins, 1998 ), we will not attempt a discussion of statistical research methods here. However, many readers will be uncomfortable with qualitative research because it is so different from the formal training of a biologist. Nonetheless, it is a vital component of educational research and should not be overlooked. What follows is a brief discussion of the most useful and common qualitative research methods for education.

Qualitative Research

Statistical research is well suited for drawing generalizable and repeatable conclusions based on a large sample of students, but it lacks depth. For example, suppose you use a particular approach in your course that you believe will lead to a greater understanding of transcription. You design a test that measures student understanding and give it to numerous students taught by using your approach and a traditional approach. You find that the students taught under your new method significantly outperform their peers. You come to the conclusion that your approach is superior. If your test and research methods were well designed, your conclusion is valid. You know your method is superior, but you have no data that tell you why the method was so successful (emphasis added by PA).. You probably have hypotheses about why the method worked so well (you had some reason to try it in the first place), but you do not know for sure. To properly answer the question of why, you must engage in qualitative research.

Qualitative research is also enormously helpful when you are initially investigating a particular area and are in the process of determining what questions might be interesting to study. The data of qualitative research are incredibly rich. Although this richness is an asset, it also makes qualitative data difficult and time consuming to analyze.

The National Science Foundation (NSF) has developed a detailed introduction to qualitative research geared toward the scientist. This introduction, User-Friendly Handbook for Mixed Method Evaluations, is excellent and can be found online at www.nsf.gov/pubsys/ods/getpub.cfm?nsf97153.

Nguồn: http://www.pubmedcentral.nih.gov/articlerender.fcgi?artid=128540&tool=pmcentrez

THỐNG KÊ LÀ GÌ?
Là các nguyên tắc và phương pháp (quy trình, thủ tục) thu thập và phân tích các dữ liệu số (numerical data) về các hiện tượng để tìm hiểu bản chất và quy luật của các hiện tượng đó.

A statistic is a numerical representation of information. Whenever we quantify or apply numbers to data in order to organize, summarize, or better understand the information, we are using statistical methods. These methods can range from somewhat simple computations such as determining the mean of a distribution to very complex computations such as determining factors or interaction effects within a complex data set.

Nguồn: http://allpsych.com/researchmethods/descriptivestatistics.html

The science of statistics deals with the collection, analysis, interpretation, and presentation of data. We see and use data in our everyday lives. To be able to use data correctly is essential to many professions and in your own best self-interest.
(Collaborative statistics)

Statistics consists of the principles and methods for
1. Designing studies
2. Collecting data
3. Presenting and analysing data
4. Interpreting the results
Statistics has been described as
1. Turning data into information
2. Data-based decision making
3. The technology of the "Scientific Method"

Surfstat.australia: an online text in introductory Statistics intro1.html 02/21/2009 16:23:37

HỌC XONG THỐNG KÊ CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC GÌ (LEARNING OUTCOMES)?

Trả lời dựa trên trang web của surfstats
Nguồn: http://surfstat.anu.edu.au/surfstat-home/surfstat-main.html

- Tóm tắt và trình bày số liệu
- Tạo số liệu mới (thiết kế nghiên cứu định lượng)
- Suy luận thống kê

What Are the Major Differences Between Quantitative and Qualitative Techniques?
Sự khác nhau chủ yếu giữa phương pháp định lượng phương pháp định tính là gì?

As shown in Exhibit 1, quantitative and qualitative measures are characterized by different techniques for data collection.
Exhibit 1. Common techniques
Quantitative Qualitative
Questionnaires
Tests
Existing databases Observations
Interviews
Focus groups

Aside from the most obvious distinction between numbers and words, the conventional wisdom among evaluators is that qualitative and quantitative methods have different strengths, weaknesses, and requirements that will affect evaluators’ decisions about which methodologies are best suited for their purposes. The issues to be considered can be classified as being primarily theoretical or practical.

Theoretical issues. Most often, these center on one of three topics:
• The value of the types of data;
• The relative scientific rigor of the data; or
• Basic, underlying philosophies of evaluation.

Value of the data. Quantitative and qualitative techniques provide a tradeoff between breadth and depth and between generalizability and targeting to specific (sometimes very limited) populations. For example, a sample survey of high school students who participated in a special science enrichment program (a quantitative technique) can yield representative and broadly generalizable information about the proportion of participants who plan to major in science when they get to college and how this proportion differs by gender. But at best, the survey can elicit only a few, often superficial reasons for this gender difference. On the other hand, separate focus groups (a qualitative technique) conducted with small groups of male and female students will provide many more clues about gender differences in the choice of science majors and the extent to which the special science program changed or reinforced attitudes. But this technique may be limited in the extent to which findings apply beyond the specific individuals included in the focus groups.

Scientific rigor. Data collected through quantitative methods are often believed to yield more objective and accurate information because they were collected using standardized methods, can be replicated, and, unlike qualitative data, can be analyzed using sophisticated statistical techniques. In line with these arguments, traditional wisdom has held that qualitative methods are most suitable for formative evaluations, whereas summative evaluations require "hard" (quantitative) measures to judge the ultimate value of the project.

This distinction is too simplistic. Both approaches may or may not satisfy the canons of scientific rigor. Quantitative researchers are becoming increasingly aware that some of their data may not be accurate and valid, because some survey respondents may not understand the meaning of questions to which they respond, and because people’s recall of even recent events is often faulty. On the other hand, qualitative researchers have developed better techniques for classifying and analyzing large bodies of descriptive data. It is also increasingly recognized that all data collection - quantitative and qualitative - operates within a cultural context and is affected to some extent by the perceptions and beliefs of investigators and data collectors.

Philosophical distinction. Some researchers and scholars differ about the respective merits of the two approaches largely because of different views about the nature of knowledge and how knowledge is best acquired. Many qualitative researchers argue that there is no objective social reality, and that all knowledge is "constructed" by observers who are the product of traditions, beliefs, and the social and political environment within which they operate. And while quantitative researchers no longer believe that their research methods yield absolute and objective truth, they continue to adhere to the scientific model and seek to develop increasingly sophisticated techniques and statistical tools to improve the measurement of social phenomena. The qualitative approach emphasizes the importance of understanding the context in which events and outcomes occur, whereas quantitative researchers seek to control the context by using random assignment and multivariate analyses. Similarly, qualitative researchers believe that the study of deviant cases provides important insights for the interpretation of findings; quantitative researchers tend to ignore the small number of deviant and extreme cases.

This distinction affects the nature of research designs. According to its most orthodox practitioners, qualitative research does not start with narrowly specified evaluation questions; instead, specific questions are formulated after open-ended field research has been completed (Lofland and Lofland, 1995). This approach may be difficult for program and project evaluators to adopt, since specific questions about the effectiveness of interventions being evaluated are usually expected to guide the evaluation. Some researchers have suggested that a distinction be made between Qualitative and qualitative work: Qualitative work (large Q) refers to methods that eschew prior evaluation questions and hypothesis testing, whereas qualitative work (small q) refers to open-ended data collection methods such as indepth interviews embedded in structured research (Kidder and Fine, 1987). The latter are more likely to meet EHR evaluators' needs.

Practical issues. On the practical level, there are four issues which can affect the choice of method:
• Credibility of findings;
• Staff skills;
• Costs; and
• Time constraints.
Credibility of findings. Evaluations are designed for various audiences, including funding agencies, policymakers in governmental and private agencies, project staff and clients, researchers in academic and applied settings, as well as various other "stakeholders" (individuals and organizations with a stake in the outcome of a project). Experienced evaluators know that they often deal with skeptical audiences or stakeholders who seek to discredit findings that are too critical or uncritical of a project's outcomes. For this reason, the evaluation methodology may be rejected as unsound or weak for a specific case.

The major stakeholders for EHR projects are policymakers within NSF and the federal government, state and local officials, and decisionmakers in the educational community where the project is located. In most cases, decisionmakers at the national level tend to favor quantitative information because these policymakers are accustomed to basing funding decisions on numbers and statistical indicators. On the other hand, many stakeholders in the educational community are often skeptical about statistics and "number crunching" and consider the richer data obtained through qualitative research to be more trustworthy and informative. A particular case in point is the use of traditional test results, a favorite outcome criterion for policymakers, school boards, and parents, but one that teachers and school administrators tend to discount as a poor tool for assessing true student learning.

Staff skills. Qualitative methods, including indepth interviewing, observations, and the use of focus groups, require good staff skills and considerable supervision to yield trustworthy data. Some quantitative research methods can be mastered easily with the help of simple training manuals; this is true of small-scale, self-administered questionnaires, where most questions can be answered by yes/no checkmarks or selecting numbers on a simple scale. Large-scale, complex surveys, however, usually require more skilled personnel to design the instruments and to manage data collection and analysis.

Costs. It is difficult to generalize about the relative costs of the two methods; much depends on the amount of information needed, quality standards followed for the data collection, and the number of cases required for reliability and validity. A short survey based on a small number of cases (25-50) and consisting of a few "easy" questions would be inexpensive, but it also would provide only limited data. Even cheaper would be substituting a focus group session for a subset of the 25-50 respondents; while this method might provide more "interesting" data, those data would be primarily useful for generating new hypotheses to be tested by more appropriate qualitative or quantitative methods. To obtain robust findings, the cost of data collection is bound to be high regardless of method.

Time constraints. Similarly, data complexity and quality affect the time needed for data collection and analysis. Although technological innovations have shortened the time needed to process quantitative data, a good survey requires considerable time to create and pretest questions and to obtain high response rates. However, qualitative methods may be even more time consuming because data collection and data analysis overlap, and the process encourages the exploration of new evaluation questions (see Chapter 4). If insufficient time is allowed for the evaluation, it may be necessary to curtail the amount of data to be collected or to cut short the analytic process, thereby limiting the value of the findings. For evaluations that operate under severe time constraints - for example, where budgetary decisions depend on the findings - the choice of the best method can present a serious dilemma.

In summary, the debate over the merits of qualitative versus quantitative methods is ongoing in the academic community, but when it comes to the choice of methods for conducting project evaluations, a pragmatic strategy has been gaining increased support. Respected practitioners have argued for integrating the two approaches building on their complementary strengths.1 Others have stressed the advantages of linking qualitative and quantitative methods when performing studies and evaluations, showing how the validity and usefulness of findings will benefit (Miles and Huberman, 1994)

Nguồn: http://www.nsf.gov/pubs/1997/nsf97153/chap_1.htm

VAI TRÒ CỦA THỐNG KÊ TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Introduction to Role of Statistics in the Scientific Method
Giới thiệu về vai trò của thống kê trong các phương pháp nghiên cứu khoa học

Statistics has a major role to play in all stages of the scientific method. This is because it is involved with the definition and evaluation of hypotheses through the collection and analysis of data. In the paths (a) --> (b) and (e) --> (b) of analytical and inductive reasoning, the methods of descriptive statistics have their role to play. They provide powerful tools for suggesting questions to ask and formulating hypotheses. This is particularly useful in the study of large data sets, especially those routinely collected without specific research purposes; in mind. Such data should also be examined for indications as to the hypothesis or theoretical model underlying the process which produced the data. Data examination may include exploratory techniques such as tabulations, summary descriptions, graphical analysis, and cluster analysis.

Statisticians play an invaluable role in this exploratory stage by working closely with researchers. A basic understanding of the subject area and excellent communication skills are important for the success of this collaboration.

The experimental process, paths (c) --> (d) --> (e), of the scientific method is intimately is involved with many areas of statistics. A description of the statistical methods and thought processes in this part of the scientific method is depicted in Figure 2 and will now be discussed.

After clearly formulating the statistical hypothesis, relevant and valid data are accumulated from historical records, sample surveys or experiments in order to test the given hypotheses and provide indications for possible alternatives. Statistics provides the researcher with an array of methodologies to help in the design of an efficient and cost-effective data collection scheme which also ensures the accuracy, unbiasedness, and quality of the data.

in the area of measurement process the statistician's technical skills are needed. Close collaboration with researchers in the subject area and communication of statistical principles are also crucial.

The principles of quality control may prove to be of valuable assistance during and after data collection. Data ought to be routinely checked for the presence of errors, biases and outliers. The relevance of the data to the hypotheses under study also needs to be continually checked.

Statistics plays a crucial role, in experimentation. Even in the best planned experiments, we cannot control all the factors that affect our observations and we can rarely make. measurements without some noise or error from the measurement process. Hence, we have to make inferences based on imprecise sample data (emphasis by PA). To be of practical use, these uncertain inferences must be accompanied by probability statements expressing the degree of confidence the researcher has in the conclusions. To make certain that such probability statements will be possible, the experiments should be designed in accordance with the principles of statistical experimental design. These principles, together with the statistical hypothesis under study, dictate a statistical model relating the data to the statistical hypothesis through probability theory.

In other words, data have no meaning in themselves; they are meaningful only in relation to a statistical model of the phenomenon being studied. The interpretation of a set of data would be different, depending on what model was thought appropriate. In practice, some basic knowledge of the phenomenon under study is usually available to allow the researcher to specify a plausible statistical model. 

Nguồn:http://www.pustaka-deptan.go.id/rkb/knowledgeBank/IPM/stats /stats.htm#Introduction_to_Role_of_Statistics_in_the_Scientific_Method.htm

CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU BẰNG THỐNG KÊ

- Rút ra quy luật thông qua việc quan sát các hiện tượng lập đi lập lại, sử dụng phương pháp quy nạp và kinh nghiệm thực (thực nghiệm)
- Tư duy có hệ thống và khoa học dựa trên các quy luật của số lớn
- Cho phép suy đoán về tổng thể từ một mẫu nhỏ hơn

28/3/11

Quản lý nghiên cứu khoa học: Chưa minh bạch?

Một chính sách quản lý tạo ra môi trường minh bạch trong nghiên cứu sẽ là tiền đề tạo động lực cho đổi mới. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lựa chọn quản lý là khâu then chốt trong đổi mới giáo dục. Liệu đây cũng có phải là một khâu then chốt trong phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam?

Ảnh: mangduhoc.com
Bản chất vẫn là "xin- cho"

Gần đây trên các báo đưa nhiều tin bài về vấn đề thu hút các nhà khoa học có chất lượng về làm việc tại cơ quan nghiên cứu, đào tạo tại Việt Nam. Nhiều bức xúc của các nhà khoa học trẻ đã được chỉ ra như lương không đủ sống, thủ tục "hành là chính", nghiên cứu theo quota, các đề tài được đóng quyển và "cất tủ" thường xuyên. Tuy nhiên chưa có bài viết nào phân tích được cái gốc của vấn đề và chỉ ra biện pháp khắc phục.

Tôi là người cũng đã được đào tạo tiến sĩ tại nước ngoài và hiện đang công tác tại một cơ quan đào tạo và nghiên cứu của Nhà nước. Do đó tôi rất hiểu bức xúc của các tiến sĩ trẻ, đặc biệt là các bạn được đào tạo tại nước ngoài khi không được đóng góp hết những khả năng làm việc mà mình có. Nguyên nhân gốc rễ của các vấn đề hiện nay theo tôi chính là do chúng ta chưa thực sự tạo ra một môi trường minh bạch trong quản lý nghiên cứu khoa học. Các chính sách quản lý chưa tạo được động lực để các nhà khoa học có cơ hội được "làm thật và hưởng thật".

Bản chất của nghiên cứu khoa học hiện nay ở Viêt Nam vẫn nằm trong cơ chế "xin-cho" mà chưa được vận hành theo nhu cầu của thị trường. Theo quy trình, hàng năm các đơn vị gửi đăng kí đề tài các cấp về cơ quan chủ quản. Các đề tài đăng kí sẽ được một hội đồng lựa chọn. Tùy thuộc vào cấp của đề tài, là trọng điểm cấp Bộ, tỉnh, t/p hay của Nhà nước, mà đề tài được đưa ra đấu thầu để tuyển chọn đơn vị có thuyết minh tốt nhất tiến hành thực hiện nghiên cứu. 

Các đề tài sau khi thực hiện xong sẽ được đánh giá trên cơ sở cho điểm của một hội đồng khoa học. Cách đánh giá này dựa trên nhiều yếu tố chủ quan hơn là khách quan, theo một hệ thống các tiêu chí "cứng" cần phải đạt được cho các đề tài. Chính yếu tố này mà nhiều đề tài mặc dù được đánh giá tốt nhưng lại sau đó "cất tủ" và không được tiếp tục triển khai.

Bên cạnh đó phương thức thực hiện đăng kí đề tài nghiên cứu hiện nay gây ra quá nhiều bất cập. Phần lớn các đề tài là do các nhà khoa học tự nghĩ ra theo vốn khoa học hiện có, cộng với quan sát thực tiễn của bản thân. Rất ít đề tài xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cần phải giải quyết tại một địa chỉ cụ thể. Từ đó dẫn đến các nhà khoa học thường làm việc độc lập, thiếu sự cộng tác với các cơ sở thực tiễn bên ngoài và ít nhiều có tính "tự sướng".

Do tính thiếu cơ sở thực tiễn mà các đăng kí hay thuyết minh của các nhà khoa học đã có "uy tín" sẽ dễ được hội đồng chấp nhận hơn. Cơ hội cho các tiến sĩ trẻ được chấp nhận đăng kí, thuyết minh sẽ ít đi rất nhiều nếu không có các "vận động hành lang" cần thiết.

Cần sự chuyển mình của nhà quản lý + nhà nghiên cứu

Tính minh bạch còn thể hiện ở chỗ người đăng kí đề tài là người có nhu cầu chứ không phải là người thực hiện. Các nhà khoa học sẽ đấu thầu cạnh trạnh để thực hiện nghiên cứu bằng cách kết hợp với cơ sở có thực tiễn. Rõ ràng lúc này cơ hội cho các tiến sĩ trẻ được đóng góp trí tuệ trở nên rộng cửa hơn rất nhiều khi xóa bỏ được tận gốc cơ chế "xin-cho".

Nghiên cứu khoa học muốn phát triển cũng cần phải được vận hành trên nền tảng của sự cạnh tranh lành mạnh như trong các lĩnh vực khác. Tính minh bạch trong quy trình quản lý và các tiêu chí đánh giá là rất cần thiết. Vài năm gần đây, Bô KHCN đã tạo ra một bước đột phá trong quản lý với sự ra đời của Quỹ nghiên cứu khoa học cơ bản Nafosted.

Quỹ này cấp kinh phí nghiên cứu cho tất cả các đề tài dựa trên tiêu chí đánh giá là số bài báo đăng trên các tạp chí có chỉ dẫn quốc tế ISI. Bên cạnh đó nhà khoa học có bài báo đăng trên các hội thảo quốc tế cũng được tài trợ kinh phí tham dự. Rõ ràng đây là một phương thức quản lý minh bạch cho tất cả các loại đề tài mà kết quả chính là các bài báo minh chứng được tính mới, tính khoa học qua sự phản biện của các chuyên gia quốc tế.

Với mặt bằng trình độ khoa học còn thấp như hiện nay ở Việt Nam, thì sự đánh giá kết quả nghiên cứu dựa trên phản biện của các chuyên gia nước ngoài là cần thiết.

Tuy nhiên, bộ tiêu chí của Nafosted đưa ra hiện nay là khá cao so với mặt bằng nghiên cứu chung ở Việt Nam. Để thu hút được nhiều người tham gia hơn nữa trong thời gian tới, Nafosted nên mở rộng bộ tiêu chí để chấp nhận cả các bài báo đăng trên kỉ yếu của các hội thảo có kiểm chứng của các tổ chức uy tín quốc tế. Trong một số lĩnh vực nghiên cứu mang tính công nghệ, để có được một bài báo tại hội thảo quốc tế thì nhà khoa học cũng đã cần bỏ ra khá nhiều công sức.

Bên cạnh các nghiên cứu để tìm ra tính mới, tính sáng tạo thì ở Việt Nam cũng rất cần các nghiên cứu làm chủ công nghệ để áp dụng vào thực tiễn. Kết quả chính của các nghiên cứu này chắc chắn phải là sản phẩm, ít nhất ở dưới dạng thiết kế và có các mẫu (prototype). Các sản phẩm phải được đánh giá trên các bộ tiêu chí kĩ thuật do các cơ quan kiểm định chất lượng ban hành.

Như vậy xuất phát điểm của các đề tài loại này cần phải do một cơ sở đề xuất từ nhu cầu sử dụng trong thực tiễn. Việc đánh giá các đề tài loại này sẽ dựa trên các tiêu chí khách quan như mức độ tiên tiến của công nghệ dùng trong sản phẩm, ở Việt Nam đã có ai làm chủ công nghệ, so sánh các chỉ tiêu kĩ thuật và giá thành của sản phẩm làm ra trong nước với sản phẩm của nước ngoài.

Tính minh bạch còn thể hiện ở chỗ người đăng kí đề tài là người có nhu cầu chứ không phải là người thực hiện. Các nhà khoa học sẽ đấu thầu cạnh trạnh để thực hiện nghiên cứu bằng cách kết hợp với cơ sở có thực tiễn. Rõ ràng lúc này cơ hội cho các tiến sĩ trẻ được đóng góp trí tuệ trở nên rộng cửa hơn rất nhiều khi xóa bỏ được tận gốc cơ chế "xin-cho".
Ngoài hai loại hình nghiên cứu chính ở trên, hiện nay ở Việt Nam cũng còn có các đề tài nghiên cứu theo nghị định thư của Chính phủ với nước ngoài và các đề tài cấp theo kinh phí khoa học thường xuyên của các đơn vị. Với mục đích là hỗ trợ tăng cường giao lưu giữa Việt Nam và các đối tác nước ngoài trong nghiên cứu khoa học, các đề tài dạng nghị định thư cũng cần được đánh giá với các tiêu chí cứng để tạo ra sự minh bạch.

Đó là số lượng hội thảo giao lưu được tổ chức chung, số lượng bài báo viết chung được đăng tại hội thảo và tạp chí quốc tế,... Bên cạnh các đề tài được quản lý bởi các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, thì nguồn kinh phí khoa học thường xuyên cấp xuống các cơ sở vẫn rất cần thiết. Việc khai thác sử dụng nguồn kinh phí này như thế nào cần để sự chủ động hoàn toàn cho các đơn vị.

Tùy thuộc vào nhu cầu hoạt động mà một phần kinh phí được sử dụng để thực hiện các đề tài cho mục đích duy trì công tác nghiên cứu thường xuyên của đơn vị. Tuy nhiên, không nhất thiết phải sử dụng toàn bộ vào mục đích làm đề tài để dẫn tới thiếu kinh phí làm công tác phụ trợ cho nghiên cứu.

Để giải quyết các tồn tại và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học thì không chỉ nằm ở một cơ chế quản lý. Rất cần có sự chuyển mình của cả các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu khoa học để tạo ra sự đổi mới toàn diện. Một chính sách quản lý tạo ra môi trường minh bạch trong nghiên cứu sẽ là tiền đề tạo động lực cho đổi mới. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lựa chọn quản lý là khâu then chốt trong đổi mới cải cách giáo dục. Liệu đây cũng có phải là một khâu then chốt trong phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam? 
 
 Tạ Tuấn Anh 

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
12345
Xuân về, thay mặt ban Quản trị Webblog The mester's Architecture Vũng Tàu kính chúc các Giáo sư Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và Trường Đại học Xây dựng cùng các anh chị em lời chúc: SỨC KHỎE & THÀNH CÔNG. GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC - AN KHANG - THỊNH VƯỢNG