Có thể nói, kiến thức khoa học mà các giáo sư đã truyền đạt cho các KTS trong khóa đào tạo ThS.KTS đầu tiên của chúng ta là vô giá. Như các thầy đã nói với chúng ta “ThS.KTS chỉ là chức danh và mới chỉ là bước khởi đầu của quá trình nghiên cứu khoa học”. Nói như thế là cách nói khiêm tốn của những người làm công tác khoa học và anh chị em biết là khó khăn và phấn đấu như thế nào, chúng ta mới có kết quả như ngày hôm nay! Ít nhất là chúng ta phải vượt qua bước khởi đầu và chúng ta phải có trách nhiệm với chức danh mà chúng ta đã có. Giải quyết được vấn đề khoa học sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho xã hội.
Chào mừng bạn đến với The Master's Architecture Vung Tau (course 2007-2010)

27/2/11

Thành phố Vũng Tàu: Phấn đấu đến năm 2015 trở thành đô thị loại I

Một năm cũ khép lại với rất nhiều thành công của đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Vũng Tàu (Bà Rịa- Vũng Tàu). Suốt thời gian qua, thành phố đã không ngừng nỗ lực, khắc phục khó khăn và đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh, từng bước vững chắc để phấn đấu trở thành đô thị loại I vào năm 2015.

Bãi biển thành phố Vũng Tàu - điểm du lịch hấp dẫn (Ảnh: K.V)
 
Kinh tế tăng trưởng cao và ổn định

Năm 2010 đã qua, đánh dấu sự tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế trên địa bàn thành phố Vũng Tàu. Nếu tính cho cả 5 năm (2005-2010), thì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố biển đạt 18%/năm; GDP bình quân đầu người đạt 5.580 USD; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; Dịch vụ- du lịch chiếm tới trên 71%; Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp chiếm 14,01% và hải sản chiếm 14,99%. Với thành phố Vũng Tàu, dịch vụ du lịch luôn là ngành kinh tế mũi nhọn, doanh thu của ngành du lịch tăng bình quân là 46%/năm. Thành phố vinh dự và tự hào là nơi được đăng cai tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch mang tầm cỡ quốc tế như: Cuộc thi Hoa hậu quý bà Việt Nam và thế giới, Festival Diều quốc tế, Lễ hội văn hóa ẩm thực thế giới… Những sự kiện này đã thu hút một lượng khách đông đảo trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch tại Vũng Tàu, góp phần quảng bá thương hiệu du lịch của thành phố nói riêng và của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cũng như Việt Nam nói chung.

Cùng với phát triển kinh tế, đảng bộ và chính quyền thành phố Vũng Tàu luôn quan tâm thực hiện tốt các mục tiêu nhiệm vụ văn hóa – xã hội. Công tác xóa đói giảm nghèo được đẩy mạnh, nhờ đó tỷ lệ hộ nghèo của Vũng Tàu đến nay đã giảm xuống khá nhiều, còn dưới 0,73%. Công tác quốc phòng an ninh, trật tự xã hội được bảo đảm, góp phần ổn định, phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố.

Những kết quả đạt được trong những năm vừa qua sẽ là tiền đề cho thành phố Vũng Tàu thực hiện thắng lợi mục tiêu trong những năm tiếp theo, mà cụ thể là từ nay đến năm 2015, thành phố Vũng Tàu phấn đấu trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh, đây cũng sẽ là thành phố du lịch” xanh, sạch, đẹp, văn minh, thân thiện, ấn tượng”. Để đạt được mục tiêu đã đề ra, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Vũng Tàu đã đặt ra nội dung việc làm cụ thể, để từ đó biến nghị quyết thành hành động thực tế. Theo đó, thành phố Vũng Tàu phấn đấu giữ vững tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 18%/năm. GDP bình quân đầu người đến năm 2015 sẽ đạt là 16.000 USD, cơ cấu kinh tế xác định theo hướng dịch vụ-du lịch 73.02%. Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp là 13,92% và hải sản 13,06%. Thành phố sẽ tập trung phát triển dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thật sự, cùng với đó là ưu tiên phát triển dịch vụ, du lịch, thương mại, đào tạo và y tế; tập trung đầu tư cho công tác qui hoạch xây dựng, phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại.

Cơ sở hạ tầng được hoàn thiện

TP. Vũng Tàu đã đầu tư nhiều công trình để khẳng định vị thế của một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa. Riêng năm 2010, UBND TP.Vũng Tàu được tỉnh giao làm chủ đầu tư 28 công trình, với tổng nguồn vốn khoảng 150 tỷ đồng. Ngoài ra, bằng nguồn vốn từ ngân sách địa phương, thành phố đã đầu tư 133 công trình, với tổng vốn hơn 187 tỷ đồng.

Phối cảnh góc dự án Khu đô thị trung tâm Metropolitan Vũng Tàu (nguồn: Ashui.com)

Với việc tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, diện mạo đô thị của thành phố Vũng Tàu ngày càng khởi sắc. Các công trình như công viên Bãi Trước, Hoa viên Trưng Vương, các thảm cây trên đường phố đã làm cho bộ mặt đô thị xanh mát hơn. Mạng lưới giao thông ngày càng hoàn chỉnh, giải tỏa được nhiều nút ách tắc giao thông. Một số tuyến đường mới đã được đầu tư xây dựng như: đường 30-4, Nguyễn An Ninh, Trương Công Định, Võ Thị Sáu, Hoàng Hoa Thám, 3-2. Các tuyến đường ở khu vực xa trung tâm cũng đã được nâng cấp đồng bộ cả mặt đường, vỉa hè, thoát nước, cây xanh. Nhiều công trình văn hóa, xã hội, du lịch, trường học, bệnh viện, công viên cây xanh và điện chiếu sáng … được đầu tư phát triển theo hướng văn minh, hiện đại.

Khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao đầu tiên của thành phố Vũng Tàu
(Ảnh: K.V)

Phấn đấu trở thành đô thị loại I

Tuy nhiên trong quá trình phát triển, TP. Vũng Tàu cũng đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải. Đó là tình trạng vi phạm quy hoạch, lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép, xây dựng không phép vẫn còn xảy ra; kinh tế du lịch có dấu hiệu chững lại so với nhiều địa phương khác; môi trường sinh thái bị ô nhiễm; triển khai các dự án đầu tư còn chậm…

Trong công tác chỉnh trang đô thị và xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đã nảy sinh một số vấn đề bức xúc, nhất là việc ổn định cuộc sống cho những hộ dân trong diện di dời, giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án theo quy hoạch. Với định hướng mở rộng không gian thành phố kết hợp với chỉnh trang đô thị tới đây thành phố còn phải giải quyết nhiều vấn đề trong quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng. Nhưng với quyết tâm trở thành đô thị loại I trước năm 2015, lãnh đạo thành phố Vũng Tàu cho biết, sẽ vận dụng các chế độ, chính sách của Nhà nước hiện hành cùng với vận động, tuyên truyền nhân dân hiểu rõ lợi ích lâu dài, tạo thuận lợi cho việc giải phóng mặt bằng nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phát triển đô thị.

Ông Phan Hòa Bình, Chủ tịch UBND TP. Vũng Tàu cho biết, thành phố sẽ tập trung phát triển dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ưu tiên phát triển dịch vụ du lịch, thương mại, đào tạo và y tế. Tập trung đầu tư cho công tác quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị theo hướng văn minh, hiện đại; trong đó ưu tiên quy hoạch, xây dựng mới Khu trung tâm hành chính – chính trị thành phố Vũng Tàu, làm tiền đề cho việc mở rộng không gian đô thị về hướng Đông Bắc thành phố. Đầu tư, cải tạo, xây dựng các công trình công cộng như đường phố, hệ thống thoát nước, hệ thống chiếu sáng, cây xanh, vỉa hè… theo quy chuẩn đô thị hiện đại. Về văn hóa – xã hội – quốc phòng an ninh, phấn đấu đến năm 2015 xây dựng hơn 50% phường, xã đạt tiêu chuẩn văn hóa, phát triển giáo dục ở các cấp học đúng độ tuổi và hoàn thành phổ cập THPT trước năm 2015; Đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. 

Với sự đoàn kết, quyết tâm của toàn đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Vũng Tàu, hy vọng những mục tiêu đã đặt ra để đưa thành phố trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2015 sẽ trở thành hiện thực.


Hòa Bình (theo Báo Xây Dựng, Báo điện tử Đảng Cộng sản Viện Nam)

THÔNG BÁO TUYỂN SINH Đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài năm 2011

ỦY BAN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------------------
------------------------------------
Số:  21/TB-UBND

Vũng Tàu, ngày 27  tháng 01 năm 2011

 THÔNG BÁO TUYỂN SINH

Đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài năm 2011

            Triển khai Quyết định số 85/2009/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2009 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc ban hành Chương trình đào tạo 150 thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài giai đoạn 2010 – 2015,
            UBND tỉnh thông báo tuyển sinh đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài năm 2011 với các nội dung như sau :
1. Đối tượng:
            - Cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại các cơ quan, đơn vị thuộc khối Đảng, Đoàn thể, các cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là CBCCVC thuộc tỉnh).
            - Viên chức doanh nghiệp, đơn vị khác ngoài công lập (sau đây gọi chung là đối tượng khác).
            - Sinh viên đã tốt nghiệp đại học, thạc sĩ năm 2009, 2010 và sẽ tốt nghiệp đại học, thạc sĩ trong năm 2011.
2. Điều kiện, tiêu chuẩn:
            2.1. Độ tuổi (tính đến năm tuyển sinh):
            - Đối với CBCCVC và đối tượng khác:
+ Đào tạo tiến sĩ: dưới 40
            + Đào tạo thạc sĩ: dưới 35
- Đối với sinh viên: dưới 30
            2.2. Trình độ chuyên môn:
            Tốt nghiệp đại học hệ chính quy hoặc thạc sĩ (trường hợp đăng ký đào tạo tiến sĩ) loại khá trở lên với chuyên ngành đào tạo hoặc vị trí công tác phù hợp với chuyên ngành theo yêu cầu của Chương trình.
            2.3. Trình độ ngoại ngữ:
           a. Đối với đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ bằng tiếng Anh :
            - Đối với CBCCVC:
            + Đào tạo thạc sĩ: có trình độ B Anh văn trở lên và phải qua kiểm tra ngoại ngữ đầu vào của cơ quan điều hành Chương trình.
            + Đào tạo tiến sĩ: có trình độ C Anh văn trở lên và phải qua kiểm tra ngoại ngữ đầu vào của cơ quan điều hành Chương trình.
            - Đối với sinh viên và đối tượng khác: phải có đủ trình độ ngoại ngữ theo yêu cầu của cơ sở đào tạo ở nước ngoài (điểm IELTS 6.5 hoặc TOFEL iBT 90 trở lên đối với đào tạo thạc sĩ; điểm IELTS 7.0 hoặc TOFEL iBT 92 trở lên đối với đào tạo tiến sĩ). Trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu chuẩn khác nhưng chưa đạt yêu cầu về ngoại ngữ sẽ được gia hạn 6 tháng kể từ khi nộp hồ sơ để bổ sung chứng chỉ ngoại ngữ theo quy định.
            b. Đối với đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ bằng tiếng Hoa, Pháp, Đức, Nhật, Hàn, Nga : Các ứng viên phải có đủ trình độ ngoại ngữ theo yêu cầu của cơ sở đào tạo ở nước ngoài.
            2.4. Trình độ tin học: sử dụng thành thạo vi tính văn phòng.
            2.5. Về phẩm chất đạo đức và năng lực:
- Đối với CBCCVC và đối tượng khác: có năng lực và triển vọng phát triển, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật, không bị xử lý kỷ luật, không vi phạm pháp luật, là Đoàn viên Công đoàn, nếu trong tuổi thanh niên là Đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
- Đối với sinh viên: Có triển vọng phát triển, có hạnh kiểm tốt trong quá trình học tập, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật, không bị xử lý kỷ luật, không vi phạm pháp luật, là Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
            2.6. Lịch sử chính trị gia đình và bản thân rõ ràng.
2.7. Có đủ sức khỏe để học tập.
            2.8. Đáp ứng các điều kiện khác về học tập, nghiên cứu, kinh nghiệm (nếu có) theo quy định của cơ sở đào tạo ở nước ngoài. Riêng trường hợp đăng ký đào tạo tiến sĩ phải có Đề cương nghiên cứu chi tiết được Hội đồng tuyển chọn ứng viên của tỉnh đồng ý.
            2.9. Chấp nhận các nội dung của bản cam kết tham dự Chương trình.
            2.10. Có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. 
3. Những ưu tiên trong tuyển chọn ứng viên:
- Ưu tiên Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, con liệt sỹ, con thương binh, con bệnh binh, con Anh hùng lực lượng vũ trang, con Anh hùng lao động, con gia đình có truyền thống cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; gia đình cán bộ, công chức, viên chức có quá trình công tác, có thành tích, cống hiến xây dựng và phát triển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Ưu tiên đối với cán bộ, công chức, viên chức; những người giữ chức vụ lãnh đạo, có quá trình và thành tích tốt trong công tác.
- Ưu tiên Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Ưu tiên là cán bộ Đoàn, Hội sinh viên (đối với sinh viên).
- Ưu tiên tốt nghiệp đại học, thạc sĩ hệ chính quy tại các Trường Đại học uy tín, được đánh giá và xếp ở thứ hạng cao.
- Ưu tiên học lực chuyên môn giỏi, xuất sắc và trình độ ngoại ngữ cao.
- Ưu tiên đoạt giải trong các cuộc thi học sinh giỏi, Olimpic…
- Ưu tiên đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển sinh vào đại học. Điểm thi vào đại học là một trong những tiêu chí trong xét chọn. 
            4. Nhóm ngành đào tạo và chỉ tiêu tuyển chọn:
           4.1. Thạc sĩ:
STT
Chuyên ngành đào tạo
Chỉ tiêu
1
Giáo dục (Quản lý giáo dục, Khoa học giáo dục, Giáo dục học, Phương pháp giảng dạy…).
11
2
Y tế (Quản lý y tế và sức khỏe cộng đồng, Y tế công cộng, Quản lý bệnh viện…).
11
3
Quản lý văn hóa, Báo chí, Truyền thông đại chúng, Công nghệ thông tin, Điện tử viễn thông, Quản lý thể dục - thể thao
11
4
Quản lý hành chính công, Quản lý nguồn nhân lực, Xã hội học, Chính sách xã hội, Quan hệ quốc tế.
14
5
Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Kế toán – Kiểm toán, Quản lý tài chính, đầu tư tài chính.
19
6
Luật (Thương mại, Kinh tế, Sở hữu trí tuệ…).
9
7
Quản lý đất đai, Bất động sản, Môi trường, Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản.
18
8
Thương mại, Thương mại quốc tế, Kinh tế công nghiệp, Quản lý du lịch, Kinh tế du lịch, Công nghệ (sinh học, thực phẩm, vật liệu …).
12
9
Xây dựng, Kiến trúc, Quản lý đô thị, Qui hoạch đô thị, Quản lý dự án, Giao thông, Cảng biển, Kinh tế cảng, Quản trị Logistics.
19

Tổng cộng
124
         
          4.2. Tiến sĩ:
STT
Chuyên ngành đào tạo
Chỉ tiêu
1
Giáo dục, đào tạo nhân lực.
2
2
Du lịch
1
3
Luật Thương mại
1
4
Kinh tế - Thương mại
2
5
Môi trường
1
6
Xây dựng – Kiến trúc - Giao thông - Quản lý đô thị - Qui hoạch đô thị
2
7
Công nghệ thông tin
1

Tổng cộng
10
5. Giai đoạn đào tạo:
            - Giai đoạn 1 (dành cho đối tượng là CBCCVC): đào tạo tập trung ngoại ngữ tiếng Anh tại các cơ sở đào tạo nước ngoài đặt tại Việt Nam hoặc cơ sở đào tạo trong nước có uy tín, chất lượng đối với trường hợp chưa đủ tiêu chuẩn về tiếng Anh theo quy định của cơ sở đào tạo ở nước ngoài. 
            - Giai đoạn 2: đào tạo tập trung chuyên môn thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài ngoài đối với các trường hợp đủ tiêu chuẩn về tiếng Anh được cơ sở đào tạo ở nước ngoài chấp nhận. 
            6. Nước cử đi đào tạo:
Tùy theo ngành, lĩnh vực đào tạo và ngôn ngữ giảng dạy, đào tạo, người trúng tuyển Chương trình được cử đi đào tạo tại một trong các nước sau: Châu Âu ( Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, Nga….), Châu Úc ( Úc, Newzealand ), Châu Mỹ ( Hoa Kỳ, Canada ) và Châu Á ( Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…).
7. Nguồn kinh phí: do Ngân sách tỉnh đảm bảo và từ các nguồn tài trợ khác.
8. Quyền lợi và nghĩa vụ của người trúng tuyển Chương trình:
8.1. Quyền lợi:
+ Được hỗ trợ toàn bộ chi phí đào tạo, bao gồm phí khám sức khỏe, lệ phí làm passport, visa, vé máy bay, phí đăng ký, học phí, sinh hoạt phí, tiền tài liệu, bảo hiểm y tế.
+ Sau khi hoàn thành khóa đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ được phân công, bố trí công tác phù hợp với ngành nghề đào tạo và yêu cầu quy hoạch cán bộ của tỉnh.
          Đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc tỉnh trong thời gian đi học được hưởng chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội và nâng bậc lương theo quy định hiện hành.
8.2. Nghĩa vụ:
          - Phải thực hiện đầy đủ nội dung trong bản cam kết đã ký với cơ quan điều hành Chương trình.
          - Ứng viên trúng tuyển Chương trình sau khi hoàn thành khóa học, phải thực hiện thời gian công tác theo phân công của tỉnh ít nhất 10 năm.
          - Khi kết thúc chương trình đào tạo, người được cử đi đào tạo phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền một đề tài nghiên cứu phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh về một lĩnh vực đã được đào tạo.
9. Đăng ký dự tuyển:
9.1. Đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc tỉnh:
 Căn cứ điều kiện, tiêu chuẩn nêu tại điểm 2 của Thông báo, các cơ quan, đơn vị tổ chức xét chọn, lập danh sách CBCCVC đăng ký tham dự Chương trình; cá nhân CBCCVC được cơ quan, đơn vị xét chọn điền đầy đủ thông tin vào Phiếu đăng kýBản lý lịch (theo mẫu kèm theo). Sau đó, cơ quan, đơn vị gửi danh sách và Phiếu đăng ký, Bản lý lịch về Sở Nội vụ trong thời gian từ ngày 01/3/2011 đến hết ngày 01/4/2011.
9.2. Đối với sinh viên và đối tượng khác:
- Ứng viên nhận Phiếu đăng kýBản lý lịch tham dự Chương trình trực tiếp tại Phòng Đào tạo, Sở Nội vụ theo địa chỉ bên dưới hoặc tải trên website của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tại địa chỉ: www.baria-vungtau.gov.vn hoặc cchc.baria-vungtau.gov.vn
- Ứng viên điền đầy đủ thông tin vào Phiếu đăng ký, Bản lý lịch và nộp về Phòng Đào tạo, Sở Nội vụ trong thời gian từ ngày 01/3/2011 đến hết ngày 01/6/2011.
           Ứng viên tốt nghiệp đại học, thạc sĩ trong năm 2011: Được bổ túc bằng cấp về chuyên môn sau khi tốt nghiệp.
Mọi chi tiết liên hệ Phòng Đào tạo, Sở Nội vụ - Địa chỉ: 08 – 09 Nguyễn Biểu, Phường Thắng Tam, TP. Vũng Tàu; Điện thoại: 064.3852212; Fax: 064.3524725; Email: ct150_brvt@yahoo.com.
                                                                                                                                                                                                                                                                                                CHỦ TỊCH
Nơi nhận:
- TTr. Tỉnh ủy (để b/c); TTr. HĐND tỉnh (để b/c);                                  (Đã ký)
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các UVUBND tỉnh;
- Các Ban, cơ quan trực thuộc Tỉnh ủy;                                    Trần Minh Sanh
- UBMTTQ và các Đoàn thể tỉnh;
- Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh;
- UBND các Huyện, Thị xã, Thành phố;
- Các Trường Đại học trên địa bàn TP.HCM và BR-VT;
- Các Trường PTTH trên địa bàn tỉnh;
- Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh;
- Website UBND tỉnh; Website CCHC tỉnh;
- Báo BR-VT, Đài PTTH tỉnh;
- Các phương tiện truyền thông khác;
- Lưu VT.

Tệp gắn kèm: - ../zW000000063/Phieudangky_Lylich.doc -

Nguồn: http://www.baria-vungtau.gov.vn

Chỉ số H trong nghiên cứu khoa học

Các cơ quan quản lí khoa học, kể cả đại học và cơ quan tài trợ nghiên cứu khoa học, thường phải đối đầu với một vấn đề tương đối nan giải: đó là đánh giá khách quan thành tựu của một nhà khoa học hay một công trình nghiên cứu. Đứng trước hàng trăm đơn xin tài trợ, hay hàng trăm đơn xin được bổ nhiệm một chức vụ khoa bảng, người quyết định phải dựa vào tiêu chuẩn gì để tuyển chọn một công trình hay một nhà khoa học? Đánh giá thành quả và thành tích của một nhà khoa học thường dựa vào sự đóng góp của nhà khoa học cho cộng đồng khoa học. Hai chữ “đóng góp” bao gồm năng suất làm việc, ảnh hưởng của công trình nghiên cứu đến cộng đồng khoa học quốc tế, và sự ghi nhận của đồng nghiệp trong ngành. Gần đây, chỉ số H (còn gọi là chỉ số Hirsch, hay H index) được đề nghị như là một thước đo về thành quả của một nhà khoa học.  Sau đây là những ưu điểm và khiếm khuyết của chỉ số này.

Số lượng và chất lượng

Đối với những nhà khoa học đã được trao giải Nobel, sự đóng góp và thành tựu của họ trong khoa học rất khó ai chất vấn được. Nhưng đối với 99,9% các nhà khoa học chưa có [hay không nằm trong phạm vi của] giải thưởng cao quí đó, việc đánh giá thành quả của họ là một vấn đề đa chiều kích (multidimension) và phức tạp. Đa chiều kích là vì thành quả khoa học phải được lượng hóa, nhưng cũng không thể bỏ qua chất lượng của các công trình nghiên cứu. Vấn đề trở nên nan giải khi tìm một công thức để quân bình giữa hai yếu tố lượng và phẩm đó. Trong quá khứ, giới quản lí đánh giá thành quả của một nhà khoa học thường chủ yếu dựa vào 3 chỉ số sau đây:

- Số lượng bài báo khoa học công bố;
- Tổng số lần trích dẫn các bài báo; và
- Hệ số ảnh hưởng của tập san khoa học.

Số lượng bài báo công bố trên các tập san quốc tế thường được xem là một thước đo về sự tích cực và năng suất nghiên cứu của một nhà khoa học. Cần nói thêm rằng cụm từ “tập san quốc tế” ở đây là chỉ những tập san khoa học có ban biên tập mà thành phần là các chuyên gia từ nhiều quốc gia, có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh (peer review system), và được công nhận trong danh sách của Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information). Theo cách hiểu và các tiêu chuẩn này, phần lớn -- nếu không muốn nói là hầu hết -- các tạp chí khoa học của nước ta chưa được xem là tập san quốc tế. Cũng cần nói thêm rằng “bài báo khoa học” ở đây chỉ tính những bài báo nguyên thủy (original paper) chứ không phải những bản tóm lược (abstract) nghiên cứu hay trình bày trong các hội nghị khoa học. Do đó, một người có nhiều bài báo khoa học công bố trên các tập san quốc tế là một chỉ số khá tốt phản ảnh năng suất lao động của nhà khoa học.

Tuy nhiên, số lượng bài báo chỉ phản ảnh phần lượng, mà có thể không phản ảnh được phần chất. Một nhà nghiên cứu có thể công bố nhiều bài báo khoa học, nhưng chất lượng nghiên cứu có thể không cao. Nhưng lấy gì để đánh giá “chất lượng” nghiên cứu của một nhà khoa học? Đây là một vấn đề gai góc, đã chiếm nhiều thì giờ và giấy mực của nhiều chuyên gia trên thế giới nhưng cho đến nay vẫn chưa có thước đo hoàn chỉnh. Trong khi chưa có một thước đo hoàn chỉnh, giới quản lí thường dựa vào uy tín hay độ ảnh hưởng của tập san mà họ từng công bố. Uy tín của một tập san thường được đo bằng hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor hay IF). Hệ số ảnh hưởng IF của một tập san khoa học là số lần trích dẫn trung bình trong năm cho các bài báo công bố trên tập san đó trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như trong 2 năm 2003 và 2004 tập san y khoa Lancet công bố 450 bài báo khoa học, và trong năm 2005 có 10.500 bài báo khác trích dẫn 450 bài báo đó, thì hệ số IF = 10.500 / 450 = 23,3.

Các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm như y sinh học và vật lí thường có hệ số IF cao hơn các tập san thuộc nghành toán học hay khoa học xã hội, nhưng điều này không có nghĩa là tập san các ngành đó có chất lượng thấp. Điều này có nghĩa là khi so sánh IF, người ta phải so sánh trong cùng ngành khoa học. Nói chung, ở mỗi chuyên ngành, tập san nào có chất lượng cao hay uy tính cao thường có hệ số IF cao. Do đó, dựa vào IF của tập san, người ta có thể đánh giá chất lượng nghiên cứu của nhà khoa học. Nhưng xin nhấn mạnh là “có thể”, bởi vì IF phản ảnh chất lượng của tập san chứ không hẳn bài báo khoa học trên tập san đó. Trong thực tế, có nhiều bài báo được công bố trên các tập san có IF thấp nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến chuyên ngành.

Bởi vì IF phản ảnh chất lượng của tập san, giới quản lí phải đi tìm một chỉ số khác phản ảnh chất lượng nghiên cứu của cá nhân nhà khoa học. Một trong những chỉ số hấp dẫn là chỉ số trích dẫn (average citation) của cá nhân nhà khoa học. Chỉ số trích dẫn được tính bằng cách lấy tổng số lần trích dẫn chia cho số lượng bài báo khoa học của một tác giả. Chẳng hạn như tác giả VĐT công bố 116 bài báo khoa học, và các bài báo này đã được trích dẫn 1434 lần (kể cả tác giả tự trích dẫn), do đó, chỉ số trích dẫn là 1434 / 116 = 12,3. Nói cách khác, tính trung bình số lần trích dẫn cho mỗi công trình khoa học của tác giả này là 12,3 lần.

Việc diễn giải chỉ số trích dẫn cũng đôi khi gặp khó khăn. Theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% các bài không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn sau 5 năm công bố ! Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70%. Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm). Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là "có ảnh hưởng". Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên.

Tuy nhiên, các chỉ số dựa vào số lần trích dẫn như IF hay chỉ số trích dẫn cũng có khiếm khuyết quan trọng. Lí do đơn giản là vì có khi nhà khoa học có một vài bài báo được trích dẫn nhiều lần, nhưng đa số còn lại chẳng ai trích dẫn, thì chỉ số trích dẫn không phản ảnh được chính xác tình trạng này.

Chỉ số H

Trong nỗ lực đi tìm một chỉ số tốt hơn, năm 2005, nhà vật lí học Jorge Hirsch (Đại học California San Diego) tiến hành một phân tích khá qui mô về xu hướng công bố bài báo khoa học và trích dẫn, và sau cùng ông đề nghị một chỉ số mà ông lấy tên là H index (H có lẽ là viết tắt họ của ông). Chỉ số H được tính toán dựa vào số công trình công bố và số lần trích dẫn. Mục tiêu của chỉ số H là đo lường mức độ ảnh hưởng tích lũy của một nhà khoa học. Chỉ số H được định nghĩa như sau: Chỉ số H của một nhà khoa học là H công trình trong số N công trình của nhà khoa học đó được trích dẫn ít nhất là H lần, và (N – H) được trích dẫn dưới H lần. Ví dụ, nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 20 có nghĩa là nhà khoa học này có 20 công trình nghiên cứu với mỗi công trình được trích dẫn ít nhất là 20 lần.

Nhìn qua định nghĩa trên của chỉ số H, dễ dàng thấy rằng đây là một chỉ số phản ảnh thành quả tích lũy của một nhà khoa học. Chỉ số H không có những khiếm khuyết mà các chỉ số khác gặp phải. Chẳng hạn như một nhà nghiên cứu có thể công bố hàng trăm ấn phẩm khoa học, nhưng trong số này chỉ có một số ít được trích dẫn thì chỉ số H vẫn không cao. Có thể nói rằng cái lợi thế lớn nhất của chỉ số H là nó chẳng những bao gồm hai yếu tố lượng và phẩm, mà còn quân bình hóa hai yếu tố này khá tốt.

Chỉ số H xem ra có tính hợp lí (validity). Hirsch chịu khó phân tích các nhà khoa học y sinh học, vật lí học, hóa học từng chiếm giải Nobel thì thấy 84% có chỉ số H trên 30. Những người được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Mĩ có chỉ số H trung bình là 45. Khi so sánh những nghiên cứu sinh thành công xin học bổng hậu tiến sĩ (postdoctoral fellowship) và những người không thành công, thì chỉ số H của người thành công lúc nào cũng cao hơn người không thành công. Phân tích trên 147 nhà khoa học ở Hà Lan cho thấy hệ số tương quan giữa chỉ số H và uy tín cũng như số lần trích dẫn lên đến 0,89. Tất cả các dẫn chứng này cho thấy chỉ số H phản ảnh tốt chất lượng nghiên cứu và ảnh hưởng của nhà khoa học.

Vấn đề kế đến là diễn giải chỉ số H như thế nào? Trong bài báo trên PNAS [1], Hirsch viết rằng [tôi tạm dịch] một nhà khoa học với chỉ số H = 12 nên được xem là đủ tiêu chuẩn để vào biên chế đại học (tenure). Một nhà khoa học với H = 20 sau 20 năm làm khoa học có thể xem là một nhà khoa học thành công (successful); một chỉ số H = 40 sau 20 năm làm khoa học được xem là xuất sắc (outstanding) thường hay thấy ở các đại học hàng đầu hay viện nghiên cứu đẳng cấp quốc tế; một chỉ số H = 60 sau 20 năm làm nghiên cứu được xem là thật sự cá biệt (truly unique) [2]. Hirsch còn đề nghị rằng người có chỉ số H khoảng 12 có thể xem tương đương với giảng viên (lecturer hay senior lecturer), và người có H khoảng 18 trở lên có thể xem tương đương với đẳng cấp giáo sư. Phân tích chỉ số H của các nhà khoa học từng chiếm giải Nobel cho thấy chỉ số H trung bình của họ là 41 với độ lệch chuẩn 15. Một số nhà khoa học nổi tiếng hiện nay thường có chỉ số H trên 100. Tuy nhiên, chỉ số H của các nhà khoa học Việt Nam -- trong cũng như ngoài nước -- nói chung là còn rất khiêm tốn, chỉ dao động trong khoảng 2 đến 31, phần lớn là dưới 10. 
Chỉ số H của một số nhà khoa học nổi tiếng

Vật lí
Ed Witten (Princeton) : 110
Martin Cohen (Berkeley) : 94
Philip Anderson (Princeton) : 91
Manuel Cardona (Max Planck) : 86
Frank Wilczek (MIT) : 68

Hóa học
George Whitesides (Harvard) : 135
Elias James Corey (Harvard) : 132
Martin Karplus (Harvard) : 129
Alan Heeger (California) : 114
Kurt Wurthrich (Switzerland) : 113

Khoa học máy tính
Hector Garcia Molina (Stanford) : 70
Deborah Estrin (UCLA) : 68
Ian Foster (Illinois) : 67
Scott Shenker (Berkeley) : 65
Don Towsley (Massachusetts) : 65 Jeffrey Ullman (Stanford) : 65
Ngay từ khi chỉ số H ra đời, có nhiều người tán thành và lấy đó làm thước đo thành tựu và ảnh hưởng của một nhà khoa học. Ngày nay, các tập san khoa học danh tiếng như Nature, Science, Cell, PNAS, v.v… và các cơ quan quản lí khoa học ở Âu châu, Mĩ châu, Úc châu đều sử dụng chỉ số H để làm cơ sở cho đề bạt, cấp tài trợ, và đánh giá thành công của một nhà khoa học hay một nhóm nghiên cứu. Ngay cả Viện thông tin khoa học (ISI Thomson) cũng sử dụng chỉ số H trong báo cáo của họ [3].

Chuẩn hóa chỉ số H

Nhưng chỉ số H vẫn chưa hoàn hảo. Trong những khiếm khuyết mà giới khoa học chỉ ra trong thời gian qua, có 3 khiếm khuyết lớn như sau:

· Thứ nhất, chỉ số H luôn luôn tăng theo thời gian, và do đó tùy thuộc vào độ tuổi của nhà nghiên cứu và thời gian làm nghiên cứu. Chẳng hạn như chỉ số H của một người đã làm nghiên cứu 35 năm có xu hướng cao hơn người có thời gian làm khoa học ngắn hơn.

· Thứ hai, chỉ số H không phân biệt được những nhà khoa học đã nghỉ hưu với những nhà khoa học đang làm việc. Chẳng hạn như nếu Albert Einstein chết vào năm 1906 thì chỉ số H của ông chỉ 4 hay 5, nhưng ai cũng biết công trình của ông có ảnh hưởng rất lớn đến khoa học.

· Thứ ba, chỉ số H còn tùy thuộc vào ngành khoa học. Nói chung, các ngành khoa học tự nhiên và thực nghiệm (như vật lí, y sinh học) có xu hướng công bố nhiều công trình nghiên cứu và thường hay trích dẫn nhau hơn các nghành khoa học như toán học hay xã hội học.

Để khắc phục các khiếm khuyết trên, một vài chỉ số khác đã được đề xuất để “điều chỉnh” chỉ số H. Để điều chỉnh cho thời gian làm nghiên cứu, Hirsch đề nghị chia chỉ số H cho thời gian làm nghiên cứu và ông gọi chỉ số này là Chỉ số m. Chẳng hạn như một người làm khoa học 30 năm với chỉ số H = 61 thì chỉ số m là 61 / 35 = 1,74.

Nhưng khiếm khuyết thứ ba là đáng quan tâm nhất. Chúng ta biết rằng các bộ môn khoa học có những văn hóa ngành khác nhau. Chẳng hạn như các ngành khoa học thực nghiệm thường có truyền thống trích dẫn cao hơn so với các ngành khoa học tự nhiên như toán học. Do đó, rất khó mà so sánh chỉ số H của một nhà vật lí học với một nhà toán học, nếu không có một cái gì đó để điều chỉnh. "Cái gì đó" chính là hệ số mà hai nhà nghiên cứu Tây Ban Nha đã phát triển [4]. Theo hai nhà nghiên cứu này, lấy ngành vật lí làm chuẩn, có thể tìm những hệ số điều chỉnh bằng cách xem xét xu hướng trích dẫn và chỉ số H của các nhà khoa học trong các bộ môn khoa học khác nhau. Qua những phân tích công phu và khá phức tạp, họ đề ra những hệ số chuẩn hóa như sau (xem Bảng 1).

Cách sử dụng hệ số này rất đơn giản. Chẳng hạn như nhà vật lí Ed Witten có chỉ số H = 110 và nhà hóa học Kurt Wurthrich có chỉ số H = 113, có thể nói rằng nhà hóa học này có thành tựu khoa học cao hơn nhà vật lí ? Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải chuẩn hóa chỉ số H. Tra bảng 1 thấy hệ số điều chỉnh cho ngành hóa học là 0,92, và do đó chỉ số H của nhà hóa học này là : 113 × 0,92 = 103,6. Như vậy, sau khi điều chỉnh, nhà hóa học có lẽ có thành tựu khoa học kém hơn nhà vật lí.

Ngoài ra, còn có chỉ số khác như chỉ số g (g index), chỉ số H đương đại (contemporary H index), chỉ số H cá nhân (individual H index). Có thể tham khảo thêm các chỉ số này trong trang nhà của giáo sư Harzing. Tuy nhiên, khi so sánh các chỉ số mới này với chỉ số H, ngoài vài trường hợp cá biệt, không có gì khác nhau đáng kể. Do đó, cho đến nay giới quản lí khoa học vẫn sử dụng chỉ số H hay chỉ số H chuẩn hóa để đánh giá chất lượng và thành tựu của một nhà nghiên cứu khoa học. Chỉ số H còn có thể thay thế hệ số IF để đánh giá uy tín và chất lượng của một tập san khoa học [5] (xem Bảng 2).

Nói tóm lại, chỉ số H là một thước đo thành quả khoa học khách quan nhất so với các chỉ số hiện nay. Tuy chỉ số H vẫn còn vài khiếm khuyết, nhưng với sự chuẩn hóa (lấy ngành vật lí làm chuẩn), các cơ quan quản lí khoa học có một phương tiện, một thước đo có ích để phục vụ cho việc cung cấp tài trợ và đề bạt các nhà khoa học xứng đáng. Ứng dụng chỉ số H cũng là một cách đưa hoạt động khoa học nước ta từng bước hội nhập quốc tế.

Chú thích:
[1] Hirsch, J. E. (2005). "An index to quantify an individual's scientific research output," Proceedings of the National Academy of Sciences, 102(46):16569-16572, November 15, 2005 (có thể tải về miễn phí tại arXiv).
[2] Trong bài báo [1] Hirsch viết như sau: “From inspection of the citation records of many physicists, I conclude the following:
A value of m ≈ 1 (i.e., an H index of 20 after 20 years of scientific activity), characterizes a successful scientist.
A value of m ≈ 2 (i.e., an H index of 40 after 20 years of scientific activity), characterizes outstanding scientists, likely to be found only at the top universities or major research laboratories.
A value of m ≈ 3 or higher (i.e., an H index of 60 after 20 years, or 90 after 30 years), characterizes truly unique individuals.”
[3] Có thể sừ dụng ISI để tìm chỉ số H của bất cứ nhà khoa học nào, qua các bước sau đây: Truy cập trang ISI Web of Knowledge (www.isiknowledge.com), tìm “Web of Science”, chọn Advanced Search. Trong box này, gõ tiêu chuẩn tìm như tên nhà khoa học và địa chỉ hay quốc gia. Chẳng hạn như để tìm tác giả Sutherland RL ở viện Garvan thuộc, chúng ta gõ AU=Sutherland RL AND AD=Garvan AND CU=Australia. Sau đó ISI sẽ cho ra một danh sách tất cả các bài báo khoa học. Chọn “Citation Report” sẽ có chỉ số H và một số chỉ số khác của nhà khoa học.
[4] Iglesias JE, Pecharromen C. Scaling the h-index for different scientific ISI fields. Scientometrics 2007;3:303. Có thể tải bài này về từ website sau đây: http://arxiv.org/abs/physics/0607224.
[5] Braun T, Glanzel W, Schubert A. A Hirsch-type index for journals. The Scientist Nov 21, 2005; 22.
[5] Philip Ball. Achievement index climbs the ranks. Nature 448, 737 (16 August 2007) và phản hồi: Michael C. Wendl. H-index: however ranked, citations need context. Nature 449, 403 (27 September 2007). Philip Ball. "Index aims for fair ranking of scientists". Nature 436 (August 2005), và Wikipedia.

Post by Bùi Lễ Hòa Bình

Bảng 1. Hệ số điểu chỉnh cho chỉ số H
Ngành khoa học
Hệ số điều chỉnh (f) chung
Hệ số điều chỉnh cho các tác giả với số bài báo
100 bài
200 bài
500 bài
1000 bài
Nông nghiệp
1.27
1.20
1.24
1.30
1.35
Sinh học và sinh hóa
0.60
0.77
0.73
0.68
0.64
Hóa học
0.92
0.95
0.94
0.93
0.92
Y học
0.76
0.86
0.83
0.80
0.77
Khoa học máy tính
1.75
1.97
-
-
-
Kinh tế
1.32
1.23
1.28
1.36
1.42
Kĩ thuật
1.70
1.79
-
-
-
Môi trường học
0.88
0.93
0.92
0.90
0.88
Geoscience
0.88
0.93
0.91
0.89
0.88
Miễn dịch học
0.52
0.73
0.68
0.63
0.58
Khoa học vật liệu
1.36
1.29
1.35
1.44
-
Toán học
1.83
-
-
-
-
Vi sinh học
0.63
0.79
0.75
0.71
0.67
Sinh học phân tử và di truyền
0.44
0.68
0.64
0.57
0.53
Thần kinh học
0.56
0.75
0.71
0.66
0.62
Dược học
0.84
0.90
0.89
0.86
0.85
Vật lí
1.00
1.00
1.00
1.00
1.00
Thực vật học
1.08
1.05
1.06
1.07
1.08
Tâm thần và tâm lí học
0.88
0.93
0.91
0.90
0.88
Khoa học xã hội
1.60
1.58
1.72
-
-
Khoa học không gian
0.74
0.85
0.82
0.79
0.76

Bảng 2. Chỉ số H của một số tập san khoa học hàng đầu
Tập san
Chỉ số H
Xếp hạng theo chỉ số H
Xếp hạng theo hệ số IF
Nature
157
1
10
Science
155
2
13
New England Journal of Medicine
113
3-4
5
Proceedings of the National Academy of Sciences of the USA
113
3-4
55
Cell
109
5
3
Journal of Biological Chemistry
100
6
95
Physical Review Letters
96
7
118
Lancet
89
8
60
Circulation
86
9
54
Nature Genetics
85
10
4
JAMA – Journal of the American Medical Association
80
11
26
Cancer Research
79
12
84
Nature Medicine
78
13-14
6
Journal of Immunology
78
13-14
109
Neuron
77
15-16
29
Journal of Cell Biology
77
15-16
36
Journal of Clinical Investigation
76
17-19
48
Blood
76
17-19
75
Astrophysical Journal
76
17-19
511
Nature Neuroscience
75
20-21
44
Journal of the American Chemical Society
75
20-21
133

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
12345
Xuân về, thay mặt ban Quản trị Webblog The mester's Architecture Vũng Tàu kính chúc các Giáo sư Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và Trường Đại học Xây dựng cùng các anh chị em lời chúc: SỨC KHỎE & THÀNH CÔNG. GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC - AN KHANG - THỊNH VƯỢNG